CẦU NGUYỆN THEO TRUYỀN THỐNG XITÔ
(Thuyết tŕnh
tại Liège, Bỉ, ngày 24.11.2005,
trong
cuộc hội thảo về các h́nh thức cầu
nguyện Kitô giáo)
Trong thư
gửi tín hữu Roma (ch. 8) thánh Phaolô nói chúng ta không biết
cầu nguyện nhưng Thánh Thần cầu nguyện trong
chúng ta bằng những tiếng rên xiết khôn tả. Tôi nghĩ đó là giáo huấn sâu sắc nhất
chúng ta có được về cầu nguyện trong Tân
Ước. Đó là lời cầu nguyện duy nhất
hiện hữu trong nhiệm cục mới của ơn
cứu độ. Tất cả những ǵ khác mà chúng
ta gọi là cầu nguyện như là lời kinh, tiếng
hát, cử điệu hay chỉ im lặng- đều là
những phương tiện chúng ta dùng để làm trào
lên nơi ư thức lời cầu nguyện của Thánh
Thần trong chúng ta, để làm cho lời cầu
nguyện ấy trở thành của chúng ta, đón nhận
lấy làm của ta và diễn đạt ra bên ngoài.
Cần
phải đặt tiếng rên xiết của Thánh Thần
nơi tâm hồn ta trong tương quan với tŕnh
thuật tạo dựng của sách Sáng thế. Tŕnh thuật này mô tả Thiên Chúa tạo nên con
người và thổi hơi sống, tức là Thần khí
của riêng Ngài, vào lỗ mũi con người.
Như thế, theo mặc khải thánh
kinh, con người đă được tạo dựng,
có mang nơi ḿnh mầm sống thần linh,
được mời gọi tăng trưởng không
ngừng với một khả năng tăng trưởng
vô cùng tận. Sự tăng trưởng ấy con người
nhận được từ Thiên Chúa như một ân
huệ. Trước ân huệ này, mà thánh
Phêrô gọi là tham dự vào sự sống của Thiên
Chúa, con người chỉ có thể có một thái
độ là ước mong. Ước mong
bẩm sinh đó trong ḷng chúng ta chính là tiếng rên xiết
của Thánh Thần, là lời cầu nguyện của Thánh
Thần trong ta như thánh Phaolô nói.
Để
cầu nguyện chúng ta không cần phải đặt ḿnh
hiện diện trước mặt Thiên Chúa, v́ Thiên Chúa luôn
luôn hiện diện trước mặt ta. Và Ngài luôn luôn ở đó cách hoàn hảo, v́ Thiên
Chúa luôn luôn trọn vẹn là Ngài. Ngài không thể
hiện diện trước mặt ta nhiều hay ít. Ngài luôn luôn ở đó, trong nơi sâu thẳm
nhất của bản thân ta. Chính chúng ta
mới thường vắng mặt. Cầu
nguyện là hiện diện trước sự hiện
diện của Chúa.
Điều
này thật với mọi kitô hữu, ngay cả với
mọi con người nữa. V́
thế tôi không thích nghe hỏi về cầu nguyện
xitô. Tôi nghĩ là không có cầu
nguyện xitô, cũng như không có cầu nguyện cát
minh hay cầu nguyện đông phương hoặc tây
phương. Nhưng tùy theo bậc
sống, có nhiều cách để chuẩn bị chúng ta
sẵn sàng đón nhận hồng ân cầu nguyện.
Chỉ theo ư nghĩa đó ta mới có
thể nói tới cầu nguyện xitô hay cầu nguyện
ǵ khác.
Tôi
cũng dị ứng với những kiểu nói như
phương pháp cầu nguyện hoặc kỹ thuật
cầu nguyện. Chẳng phương
pháp hay kỹ thuật nào có thể tạo ra sự cầu
nguyện hay dẫn chúng ta tới cầu nguyện. Tất
cả những ǵ một phương pháp có thể làm
đó là loại bỏ khỏi ḷng ta những trở
ngại cho tác động của Thánh Thần hay chuẩn
bị ta sẵn sàng đón nhận cách nhưng không hồng
ân cầu nguyện. Quan niệm như
thế th́ một phương pháp đương nhiên là
hữu ích, và phải thẩm định tùy theo
kết quả nó mang lại. Nếu một phương
pháp hướng dẫn ta để có được con
tim tinh tuyền, sự an b́nh nội tâm và ư hướng ngay
thẳng, đơn sơ trước hồng ân cầu
nguyện, th́ đó là một phương pháp tốt, dù có
nguồn gốc từ Kitô giáo hay từ một truyền
thống thiêng liêng khác.
Cũng
vậy, tôi nghĩ thật là quá tự phụ khi một ai
đó muốn dậy người ta cầu nguyện. Chỉ có Thánh Thần mới dậy
được. Nhưng, dĩ nhiên việc chỉ
dẫn thiêng liêng có thể giúp người nào đó
tiến tới trên đường hiểu biết ḿnh
để đạt được ơn hoán cải và có
con tim tinh tuyền mà nhận lănh hồng
ân cầu nguyện.
Nếu muốn nói
đến một cách cầu nguyện thật là xitô, tôi
sẽ nói là chẳng có
một kỹ thuật hay một phương pháp
đặc biệt nào dạy cho ta cách cầu nguyện
đó cả. Cầu nguyện xitô nằm trong
sự quân b́nh giữa các yếu tố của cuộc
sống hàng ngày. Trong toàn bộ, nếp
sống xitô, một cách sống mà tu luật thánh Biển
Đức gọi là cuộc hoán cải, là nếp
sống phải dẫn đưa đan sĩ tới
việc cầu nguyện liên lỉ.
Tôi xin
nhấn mạnh là cầu nguyện liên lỉ, v́
đó là mục đích của cuộc đời đan
sĩ cũng như của cuộc đời mợi kitô
hữu. Thực vậy, nếu muốn t́m một
chỉ thị rơ ràng trong Tân Ước, ta chỉ thấy
có một chỉ thị duy nhất. Không chỗ nào nói
phải cầu nguyện bao nhiêu lần trong một ngày hay
một tuần. Chỉ thị duy nhất là
phải cầu nguyện không ngừng. Dĩ
nhiên điều ấy không có nghĩa là phải đọc
kinh liên tục, nhưng phải duy tŕ liên tục bao nhiêu có
thể sự hiện diện của ḿnh trước tôn
nhan Thiên Chúa, hiện diện trước Đấng luôn
ở trước mặt ḿnh. Hẳn là
có những lúc ta ư thức cách mạnh mẽ về sự
hiện diện của Chúa, có những lúc ư thức đó
lại tiềm ẩn hơn, nhưng vẫn có thể và
phải liên tục qua mọi sinh hoạt. Nếu không cố gắng sống liên tục
trước nhan Chúa, mọi kinh nguyện ta thực hành
trong những giờ phụng vụ cộng đoàn sẽ
có nguy cơ chỉ là giả tạo.
Trong cuộc
sống một đan sĩ xitô, có thời gian để lao động, có thời gian đọc
Lời Chúa, có thời gian cầu nguyện riêng hay
đọc kinh chung. Trong môi sinh hoạt trên
đây, đan sĩ được mời gọi duy tŕ
thái độ chiêm niệm hướng về Chúa.
Nếu không chiêm niệm khi làm việc, ta cũng sẽ
chẳng chiêm niệm được khi cử hành Phụng
vụ Giờ kinh, hay khi qú gối trước Thánh Thể
hoặc ngồi thiền trong pḥng riêng (dù có đốt
nến thắp hương đi nữa!).
Chiêm niệm trong khi
làm việc không có nghĩa là đọc kinh hay suy
nghĩ những điều
thiêng liêng trong lúc đó. Nhưng đơn giản chỉ
là hiện diện trước mặt Chúa. Và cách hiện
diện tốt nhất trước mặt Chúa là chăm
chú vào việc đang làm, cố gắng làm tốt chừng
nào có thể, dù là việc trí óc hay việc chân tay, như làm
ruộng, làm máy, làm kỹ thuật. Làm việc là kết
hợp với Chúa, v́ làm việc là dự phần vào
hoạt động sáng tạo của Chúa, Đấng không
ngừng tạo dựng thế giới qua những sinh
hoạt của chúng ta. Hẳn là có những việc cho phép
ta đọc kinh hay nghĩ tới những điều
thiêng liêng cách dễ dàng hơn những việc khác. Nhưng không v́ vậy mà những công việc
ấy có tính cầu nguyện hơn những việc
đ̣i phải hoàn toàn chăm chú về thể lư hoặc
tinh thần để làm cho tốt.
Bên cạnh lao
động, một sinh hoạt quan trọng của
đời sống đan tu giúp đan sĩ bằng
cố gắng tích cực của tâm và trí có
được những hiểu biết sâu sắc hơn
về các mầu nhiệm đức tin, đó là lectio divina
(đọc Lời Chúa hay đọc sách thiêng liêng). Từ ngữ này mới trở nên quen thuộc
từ những thập niên mới đây, nhưng thực
tại của nó đă có từ rất xa xưa.
Hơn nữa, các đan sĩ xưa kia
hiểu về ư nghĩa của từ ngữ lectio divina
rộng răi hơn ta hiểu ngày nay.
Bây
giờ người ta thường coi lectio divina là một
khoản luật như những khoản luật khác,
mặc dầu cho đó là một trong những khoản
luật quan trọng hơn cả. Khi coi lectio divina như một khoản luật
phải giữ, ta làm mất hết ư nghĩa sâu xa nhất
của từ ngữ ấy. Với các
đan sĩ cổ thời, lectio divina không phải là
một khoản luật nhưng là một thái độ.
Thái độ này hệ tại chỗ
để cho bản thân ḿnh được Lời Chúa liên
tục chất vấn, và để Lời Chúa biến
đổi cũng như hoán cải ḿnh. Chúa nói với ta bằng ngàn cách khác nhau. Ngài nói với ta qua Lời mạc khải trong Kinh
Thánh Cựu và Tân Ước. Ngài nói với ta qua Truyền
thống của Giáo hội. Ngài nói
với ta qua các biến cố lịch sử, đặc biệt
các biến cố chính chúng ta đă trải qua. Ngài nói
với ta qua những người ta chung
sống. Và ngài không ngừng nói với ta trong
đáy ḷng ta. Trước những cách diễn
đạt ấy của Lời Chúa, tôi phải có thái
độ sẵn sàng cởi mở để đón
nhận. Nếu không cởi mở đón nhận khi
học hỏi hay khi lắng nghe anh em tôi, tôi cũng sẽ
không cởi mở đón nhận khi đọc Kinh thánh. Ta
sẽ hoàn toàn tự đánh lừa ḿnh khi tưởng ḿnh
là con người cầu nguyện v́ đă cẩn thận
chu toàn giờ suy niệm và giờ lectio divina mỗi ngày,
nhưng lại chẳng cố gắng giữ tâm hồn
cởi mở trong mọi công việc khác.
Dĩ nhiên Lời
Kinh thánh phải giữ vị trí ưu tiên trong đời
sống cầu nguyện của ta, v́ Lời đó
truyền đạt cho ta kinh nghiệm thiêng liêng của nhiều
thế hệ những người tin và những tâm
hồn cầu nguyện. Không những chỉ
sống động, Lời ấy c̣n luôn luôn mới mẻ
mỗi khi ta đọc, bởi v́ khi đó chính ta cũng
đă khác rồi. Nhưng phân biệt cách tuyệt
đối rạch ṛi giữa lectio divina và những h́nh
thức đọc sách hay học hỏi khác, như
nhiều khi sách báo ngày nay
đă làm, tôi nghĩ chẳng những sai lầm mà c̣n nguy
hiểm nữa. Trái lại chúng ta phải học hỏi
hay đọc sách với cùng một thái độ như
khi thực hiện lectio divina; nghĩa là để cho ḿnh
được cật vấn và biến đổi bởi
Chân lư đến với chúng ta qua tất cả những
thực hành đó.
Đan sĩ xitô là một đan
sĩ cộng tu, nghĩa là sống chung
với anh em. V́ thế việc cầu nguyện mà họ
cố gắng sống thường xuyên bao nhiêu có thể
trong suốt cả ngày, họ sẽ diễn đạt
nhiều lần trong ngày và cả ban đêm- trong
việc cử hành chung gọi là Thần Vụ hay Giờ
kinh Phụng vụ, như thường nói từ sau Công
đồng Vatican II. Trong tu luật, thánh
Biển Đức gọi là Opus Dei Thần vụ.
Từ ngữ này rất đẹp. Nó nói tới một công việc. Đó là
một hoạt động chung. Việc
cầu nguyện trong ngày không phải chỉ có các giờ
Thần vụ, v́ chúng ta phải cố gắng cầu
nguyện không ngừng, nhưng các giờ Thần vụ là
những lúc chúng ta góp chung lại tất cả những
yếu tố làm nên trái tim của
đời sống chúng ta.
Cử
hành Thần vụ không phải là cùng nhau đọc lên
những lời kinh đẹp giúp mỗi người có
được những tư tưởng đạo
đức và âm thầm cầu nguyện trong đáy ḷng
ḿnh. Nếu được như
vậy cũng là điều tốt. Nhưng
đấy không phải là mục đích của Thần
vụ. Thần vụ là một sinh
hoạt. Một cử chỉ bên
ngoài và tập thể của kinh nguyện, được
kết cấu bởi các bài đọc, các thánh ca, những
cử điệu của thân xác, những lúc thinh lặng.
Toàn thể tổng hợp ấy là kinh
nguyện. Nếu tôi hát một câu tiền ca hay
một bài thánh thi, khi đó cách cầu nguyện tốt
nhất không phải là hát thế nào cũng được
miễn sao tôi sốt sắng suy niệm theo
những lời tôi hát, nhưng là để hết tâm trí
vào lời tôi hát sao cho chính xác và đúng nhịp
điệu.
Là kinh nguyện
tập thể, Thần vụ c̣n là lúc thực hiện
Lectio divina chung của cộng đoàn
nữa. Qua các bài Kinh thánh và những bài đọc của
các tác giả sau này, qua các lời nguyện và các thánh
vịnh, tất cả cộng đoàn, chứ không phải
chỉ có các cá nhân trong cộng đoàn, được
Lời Chúa chất vấn, xây dựng và biến
đổi.
Theo truyền
thống đan tu cổ thời, các thánh vịnh không
phải là những bản kinh mà chúng ta dùng
để diễn đạt những tâm t́nh cầu
nguyện của riêng ḿnh điều đó
thường không thể làm được hay đ̣i tâm trí
phải cố gắng rất nhiều. Đúng
hơn, thánh vịnh phải được coi như những
bài đọc giống như những bản
văn khác của Kinh thánh. Đó là những bản
văn giúp ta tiếp cận với kinh nghiệm thiêng liêng
của những người có đức tin mạnh và có
tâm hồn cầu nguyện sâu xa, ở một thời
kỳ đặc biệt của lịch sử cứu
độ, rất lâu trước khi Chúa Kitô đến và
trước khi Thiên Chúa T́nh Yêu được mạc
khải. V́ thế, theo truyền
thống cổ xưa, sau mỗi thánh vịnh đều có
một lúc thinh lặng, rồi một lời nguyện có
nội dung đặc biệt kitô giáo. Nếu đọc
thánh vịnh theo cách này, ta sẽ không c̣n
thắc mắc khi thấy một số thánh vịnh bày
tỏ ư muốn trả thù hay mong cho quân địch bị
diệt vong. Những thánh vịnh ấy
biểu trưng cho một giai đoạn trong tiến tŕnh
thiêng liêng của Dân Thiên Chúa.
Bài đọc
của các tác giả sau này, đặc biệt là trong
Giờ Kinh Đêm, cũng cho chúng ta tiếp xúc với kinh
nghiệm thiêng liêng của những con người của
Thiên Chúa sống vào thời gian gần chúng ta hơn. Điều đó cũng quan trọng để
giúp chúng ta cá nhân cũng như cộng đoàn
sống sâu sắc hơn kinh nghiệm riêng của chúng ta.
Theo quan điểm
này, một số viễn cảnh chú giải tân thời,
như của Paul Ricoeur chẳng hạn, dù vẫn giống
với trực cảm của các Giáo phụ, có thể giúp
chúng ta hiểu được điều chúng ta đang
sống. Theo Ricoeur, khi đọc một bản văn
cổ, ngay cả bản văn của một tác giả
mới hơn, không hẳn là chúng ta tiếp xúc với
tư tưởng của tác giả, nhưng là
với chính thực thể mà tác giả nói tới. Những bản văn này, đặc biệt
những bản văn Kinh thánh, hàm chứa những ư
nghĩa bất tận. Mỗi khi đọc lại,
chúng ta đều nhận ra được những ư
nghĩa mới, bởi v́ mỗi lần đọc lại
một bản văn, chúng ta lại là con người khác
một chút sánh với lần trước đó. V́ thế,
chúng ta có thể đọc đi đọc lại
hằng trăm lần một bản văn, và nó vẫn
luôn luôn mới, v́ mỗi lần đọc là mỗi
lần nó đụng chạm tới một điểm
khác biệt nơi bản thân chúng ta.
Kinh
nghiệm cá nhân và tập thể có được từ
những bài đọc trong Thần vụ chúng ta có thể
diễn đạt qua những lời nguyện tự phát,
mà Luật phụng vụ sau Công đồng Vatican II cho phép
thực hiện dễ dàng hơn trước nhiều. Và kinh nghiệm thiêng liêng của nhiều đan
sĩ xitô ngày nay đă được diễn đạt
qua các thánh thi, thánh ca và các lời nguyện phụng vụ
được xuất bản những năm gần
đây.
Việc cử hành
Thánh Thể đương nhiên là trung tâm đời
sống phụng vụ của một cộng đoàn
đan tu. Việc cử hành này thấm
nhập vào toàn bộ kinh nguyện chung
của cộng đoàn. Đây cũng là
việc sống và diễn tả lời cầu nguyện
liên lỉ. Trong phần thứ nhất
của cử hành Thánh Thể, chúng ta lắng nghe chứng
từ của các chứng nhân Cựu Ước và Tân
Ước, giống như trong Thần vụ. Các chứng nhân ấy chuyển đạt cho chúng
ta Lời Chúa được bao bọc trong kinh nghiệm
các ngài đă có khi sống Lời Chúa. Quả
thực Lời Chúa không bao giờ đến với chúng ta
trong cái trừu tượng, nhưng luôn luôn dưới
h́nh thức một Lời được đón nhận,
được sống và được truyền
đạt qua kinh nghiệm sống. Trong
phần hai của cuộc cử hành chúng ta đón nhận
Lời Chúa nhập thể.
Vào thế kỷ12,
thời kỳ mà Dân Chúa đặc biệt quan tâm tới
nhân tính của Chúa Kitô, các đan sĩ xitô tiên khởi
đă sống và khai triển trong linh đạo của các
ngài đặc biệt thánh Bênađô ḷng sùng kính
rất sống động và thân thương đối
với nhân tính Chúa Kitô. Có lẽ đó là
điều giải thích cho
việc cầu nguyện có tính rất nhập
thể như các đan sĩ xitô đă thực
hiện và như tôi đă cố gắng tŕnh bày với quí
vị từ đầu bài nói chuyện này. Cuộc
gặp gỡ giữa đan sĩ xitô với Thiên Chúa
phải có tính nhập thể: nhập thể trong lao động, trong việc đọc sách và
học hành, nhập thể trong các giao tiếp huynh
đệ hay trong những giờ suy niệm cá nhân hoặc
cử hành phụng chung với cộng đoàn. Và cuộc gặp gỡ này sẽ đạt cao
điểm trong sự hiệp nhất thể lư với
Ngôi Lời nhập thể khi ta đón rước Ḿnh và Máu
Chúa Kitô.
Đan
sĩ xitô cử hành kinh nguyện tập thể trong
một nơi riêng biệt gọi là nhà thờ và thánh
Biển Đức gọi là nhà nguyện, nghĩa là nơi
để cầu nguyện.
Một nhà thờ
Kitô giáo là nơi hoàn toàn khác với những đền
thờ ngoại giáo hay đền thờ thuộc các tôn
giáo lớn của Á châu, như Ấn Độ giáo
chẳng hạn. Nơi các tôn giáo ấy,
đền thờ là nơi thần linh ngự. Trong Kitô giáo, nhà thờ hay vương cung thánh
đường trước hết là nhà của dân Chúa.
Và nhà thờ trở thành nhà Chúa v́ Chúa Kitô
đă hứa nơi nào có hai hoặc ba người tụ
họp nhân danh Ngài, Ngài sẽ ở giữa họ. Cũng thế, nhà thờ của đan viện
xitô trước hết là nơi cộng đoàn tụ
họp để cùng nhau cầu nguyện, như tôi
vừa nói. Như thánh Biển Đức đă tiên
liệu trong tu luật, anh em có thể ở lại
để cầu nguyện thêm sau giờ kinh chung,
hoặc có thể đến nhà thờ ít phút trước
khi cử hành giờ kinh. Thời gian rảnh
giữa các giờ Thần vụ, anh em cũng có thể vào
nhà thờ cầu nguyện hay suy niệm riêng.
Nhưng nếu ta vào nhà thờ của một đan
viện xitô lúc nửa buổi ban sáng hay sau trưa mà không
thấy có ai cầu nguyện trong đó th́ không nên ngạc
nhiên, đấy là chuyện b́nh thường. Những lúc ấy ta có thể thấy các đan
sĩ đang cầu nguyện bằng nhiều cách, qua nhiều
công việc khác nhau.
Sự hiệp thông
giữa các đan sĩ với Chúa và giữa họ với
nhau có thể sẽ không xác thực nếu chỉ khép kín
trong nội vi đan viện. B́nh thường sự hiệp thông ấy
phải được mở ra bên ngoài. Trong tu luật, thánh Biển Đức đă
thấy trước là đan viện sẽ không bao giờ
thiếu khách và ngài đă tiên liệu một nghi thức
để đón tiếp khách với sự kính trọng
như đón tiếp Chúa Kitô. Mọi
đan viện xitô đều có nhà khách để tiếp
đón những người muốn tới không những
để tĩnh dưỡng về thể xác, tinh
thần hay thiêng liêng, nhưng cũng để tham dự
các giờ kinh của đan viện. Việc
cởi mở để chia sẻ này thuộc thành phần
kinh nghiệm cầu nguyện của đan sĩ xitô.
Nó mang những h́nh thức khác nhau tùy theo
mỗi người. Trong nhiều
trường hợp đó chỉ là chia sẻ trong vài ba
ngày khung cảnh yên tĩnh và thanh vắng của đan
viện để giúp họ tập sống cầu
nguyện liên lỉ. Có những trường hợp
khác, đó là chia sẻ những giờ cầu nguyện chung tại nhà thờ. Về điều này
cũng có những khả năng khác nhau tùy theo
nhu cầu và mong muốn của từng người. Có
người thích im lặng để lắng nghe các đan
sĩ hát (hay đọc) kinh và để tâm hồn bay
bổng theo lời kinh tiếng hát
của cộng đoàn. Có người muốn theo dơi các lời kinh và các bản văn trong
sách. Người khác lại cùng hát với các
đan sĩ. Những cách thể
hiện ấy không quan trọng bao nhiêu. Điều
cốt yếu là sự hiệp thông trong cầu nguyện.
Một số
người, tuy không hề muốn làm đan sĩ,
nhưng lại cảm thấy nhu cầu muốn tham gia
cuộc sống của các đan sĩ đầy
đủ bao nhiêu có thể, trong một thời gian dài
ngắn tùy nghi, một tuần, một tháng hoặc hơn.
Họ muốn thông hiệp với các đan sĩ trong
việc t́m kiếm và sống hồng ân
cầu nguyện liên lỉ qua nhịp độ quân b́nh
giữa mọi yếu tố của đời sống
chung: lao động, đọc Lời Chúa, Thần vụ.
Sau cùng, nơi
phần đông các đan viện xitô ngày nay đă h́nh thành
những nhóm nhỏ giáo dân muốn chia sẻ cuộc
sống thiêng liêng của các đan sĩ và đă tạo nên
những cộng đoàn nhỏ các giáo dân xitô,
được liên kết với một cộng đoàn
nam hay nữ đan sĩ của Ḍng Xitô. Họ
không mong làm đan sĩ, nhưng muốn sống giữa
đời những giá trị mà các đan sĩ cố
gắng sống nơi đan viện. Như vậy,
không những họ bày tỏ, qua mọi yếu tố
cuộc sống của họ, đoàn sủng xitô mà c̣n
cả cách thức đặc thù các đan sĩ xitô
sống hồng ân cầu nguyện kitô
giáo.
Không những các
đan sĩ được mời gọi hiệp thông
với các vị khách tới đan viện, nhưng c̣n
với Giáo hội và xă hội nói chung, mà
họ ôm ấp trong kinh nguyện của ḿnh, và đặc
biệt là với những người dân sống chung quanh
đan viện. Tùy theo hoàn cảnh về
nơi chốn và thời gian, các cộng đoàn đan tu
thường được kêu mời thực hiện
một sinh hoạt bác ái hay xă hội nào đó cho những
người dân trên đây. Đan sĩ không chỉ cầu
nguyện cho sinh hoạt ấy được thực
hiện tốt, nhưng chính sinh hoạt ấy cũng là
một h́nh thức cầu nguyện v́ là h́nh thức
hiệp thông với Thiên Chúa, như Ngài đă dậy:
Điều ǵ các con làm cho một kẻ bé mọn
nhất trong những kẻ thuộc về Ta là các con
đă làm cho Ta.
Để
kết luận, tôi ư thức rằng thật là táo bạo
khi muốn diễn tả kinh nghiệm về cầu
nguyện, như tôi đă nói từ lúc đầu. Tôi cũng ư thức rằng tôi cũng như
chẳng ai trong các anh em xitô của tôi sống hoàn hảo
được cuộc sống cầu nguyện này. Nhưng tôi có thể quả quyết ít nhất
đó là điều chúng tôi đang cố gắng sống.
Liège,
24. 11. 2005
Armand Veilleux OCSO