ĐAN TU TRÀO KITÔ GIÁO
[Bài 1]
KIỂU MẪU ĐÔNG PHƯƠNG
Antôn (khoảng 251-356), con của một nông gia Ai Cập, đă theo sát lệnh truyền Chúa Giêsu nói với một môn đệ: �Hăy bán hết những ǵ anh có, đem tiền cho người nghèo, rồi đến theo tôi�.
Điều đó cùng với nguyên tắc xa lánh thế gian đă được vị ẩn sĩ triệt để thực hiện. Ước muốn chiêm ngưỡng và cầu nguyện đ̣i buộc người tín hữu phải rút lui vào sa mạc, cách biệt mọi người. Chính v́ thế, các tu sĩ chuyên lo �ca ngợi Chúa� trong cô tịch và trơ trụi được gọi là các�Linh phụ sa mạc�. Tại những miền này, từ xưa người ta đă tin rằng sa mạc cằn cỗi và hoang vu là vương quốc của vị thần Ai Cập tên là Set, một thứ Ác thần, tức là ma quỉ . Các đan sĩ muốn giáp mặt với ma quỉ để đánh bại nó. Đó là nguồn gốc việc tŕnh bày �cơn cám dỗ của thanh Antôn� trong nghệ thuật ảnh thánh của Kitô giáo. Đôi khi thánh Antôn được gọi là đấng sáng lập tu trào ẩn tu, nền tảng của việc thực hành Kitô giáo ở đông phương. Trước khi qua đời vào năm 356, thánh Antôn lôi cuốn vào sa mạc Têbait bên Ai Cập một đoàn tín hữu và tổ chức cuộc sống cho họ nhờ một qui luật sống vào năm 305. Các đan viện ở Fayoum này là mẫu mực cho các đan viện ở sa mạc Nitrie và Scété.
Đan sĩ (monos: một ḿnh), sống ẩn dật và cực kỳ thiếu thốn do nền khổ hạnh nghiêm ngặt nhất, không thể tồn tại giữa một môi trường khắc nghiệt, lại bị nguy cơ mất trí và những ảo giác, do cảnh thiếu thốn khủng khiếp, làm rối loạn nhận thức lành mạnh về ơn gọi tu tŕ. Nhận ra nguy cơ lạc hướng này, thánh Pacôme duy tŕ nguyên tắc xa lánh thế gian, nhưng cho phép sống chung, thỉnh thoảng các đan sĩ tu họp nhau để cử hành bí tích Thánh Thể. Sau khi qua đời vào năm 348, ngài được coi như vị sáng lập tu trào cộng tu. Thời ấy các tu sĩ qui tụ quanh các ngôi làng đan tu và sống chung thành cộng đoàn chừng năm mươi người. Tu pḥng (căn nhà nhỏ, biệt lập) của họ ở gần với nhau, từ cái này có thể nh́n thấy cái kia.
Trước lúc qua đời, thánh Pacôme điều hành chín đan viện nam và hai đan viện nữ, đó là những đan viện đầu tiên trong thế giới Kitô giáo. Đôi khi có hàng trăm tu pḥng rải rác khắp sa mạc. Gần năm ngàn đan sĩ sống trong sa mạc Nitrie.
Thánh Pacôme không phải là linh mục và các môn đệ của ngài cũng không, trong khi đó hàng giáo sĩ lo ngại v́ các đan sĩ du tu được quá nhiều tự do sống theo sáng kiến riêng của ḿnh, các đan sĩ này truyền bá những lời giải thích không chính thức của một khoa chú giải đang thành h́nh. Dần dần có những giáo sĩ gia nhập phong trào này bên Tiểu Á và bên Palestine trong lúc việc cơ cấu hóa toàn bộ các cộng đoàn trên đây được chầm chậm thực hiện cách hài hoà dưới quyền các vị giám chức của Giáo hội. Đan sĩ Sabas (439-532) cư ngụ trong sa mạc Juđê, bên Thánh địa, đề nghị một kiểu mẫu mới, kiểu mẫu một loại tu viện: các đan sĩ sống trong một thứ xóm tu tŕ, họ qui tụ với nhau để dự lễ và dùng bữa chung. Trong tu pḥng cá nhân, họ lao động bằng nghề đan rổ rá hay dệt vải rồi đến tụ họp với nhau tại đan viện. Đan viện Thánh-Sabas tuyệt đẹp c̣n tồn tại tới ngày nay ở Palestine. V́ thế người ta nói dến tu trào cộng tu để chỉ nếp sống cộng đoàn của các đan sĩ Kitô giáo.
Người ta đă t́m thấy vết tích của ít là 167 đan viện ở vùng đất giữa Giêrusalem và biển Chết. Trong số những đan viện này nổi tiếng nhất phải kể tới các đan viện ở Wadi Natrum bên Ai Cập và đan viện Thánh Catarina ở Sinai.
Trích tiểu sử thánh Sabas:
�Sabas, bây giờ là công dân nước trời, có quê quán tại làng Mutalaska bên miền Cappadoce, thuộc vương quốc của Cesar ? Khi ngài sống được mười năm trong đan viện này (tại Palestine), viện phụ cho phép ngài sống một ḿnh trong hang năm ngày mỗi tuần. Ngài sống như vậy trong năm năm (469-474). Chiều Chúa nhật ngài rời đan viện, mang theo những tầu lá chà là để làm việc trong tuần. Suốt năm ngày, ngài không ăn tí ǵ. Sáng sớm ngày thứ bảy, ngài trở lại đan viện mang theo thành quả lao động là năm mươi cái sọt đă đan xong?
Nhiều vị ẩn sĩ ở rải rắc đó đây t́m đến với ngài. Ngài làm cho họ một căn nhà nhỏ và t́m cho họ một cái hang. Từ đó, nhờ ơn Chúa, cộng đoàn của ngài tăng lên tới bảy mươi đan sĩ? Rồi ngài xây một tu viện và ở triền đồi ngài dựng một nhà nguyện có bàn thờ được thánh hiến�.