CỘNG ĐOÀN ĐAN VIỆN

BÍ TÍCH CỦA GIÁO HỘI

 

        Dịp kỷ niệm thập ngũ bách chu niên ngày sinh của thánh Biển Đức nêu lên cho các đan sĩ một thách đố trước vấn nạn về lư do đời sống chiêm niệm của họ. V́ cảm thấy dư thừa nếu lặp lại điều mà nhiều tác giả đă thường nói tới, nên chúng tôi sẽ chỉ thử phác họa nền tảng thần học của đời sống đan tu khi xử dụng ư niệm “bí tích”. Cách làm này chẳng hề có ǵ mới cả tuy xem ra hơi lạ. Ngay trong khoa Giáo hội học, chỉ những thập niên vừa qua người ta mới bàn tới Giáo hội như là bí tích của thế giới. Thoạt đầu đă có phần do dự, nhưng sau đó với xác tín và nhiều lần lặp đi lặp lại, Công đồng Vatican II  đă chấp nhận định nghĩa này, như thế là tóm lược cách cô đọng điều đă luôn luôn được coi là cốt yếu. Đề tài của chúng tôi như sau: cộng đoàn đan viện là bí tích của Giáo hội. Chủ yếu chúng tôi sẽ nói về đan viện, không phải như Giáo hội, nhưng như bí tích của Giáo hội.

 

      “Đời sống biển đức” mà chúng tôi sẽ đề cập ở đây ám chỉ mọi nếp sống đan tu cộng đoàn. Chỉ định từ “biển đức” được dùng tới v́ lư do hiện nay hầu như mọi đan sĩ đều sống theo tu luật của thánh Biển Đức.

 

I.       ĐỜI SỐNG THEO PHÚC ÂM

 

        1. Lư tưởng đan tu. Đời đan tu đưọc xây dựng trên nền tảng là chính Phúc âm. Khi viết tu luật, thánh Biển Đức đă lấy Phúc âm làm chuẩn mực. Như vậy lời Chúa là qui luật duy nhất cho cuộc sống của đan sĩ. Ở Lời mở đầu chúng ta đọc: “Thắt lưng bằng đức tin và bằng các việc lành, được Phúc âm hướng dẫn, chúng ta tiến trên con đường ngài đă vạch cho chúng ta để đáng được xem thấy đấng đă mời gọi chúng ta vào vương quốc của ngài” (Lmđ 21)[1]. Kết thúc tu luật, thánh Biển Đức viết: “C̣n ai hăm hở tiến tới mức hoàn thiện của đời tu, họ đă có giáo huấn của  các linh phụ, thực thi những giáo huấn ấy họ sẽ đạt tới đỉnh hoàn thiện. Thực vậy, có trang nào, lời nào trong Cựu Ước và Tân Ước lại không là chuẩn mục hoàn hảo cho cuộc sống con người?” (Ch. 72,2-3). Như vậy rơ ràng là lúc khởi đầu cũng như khi kết thúc tu luật đều đưa chúng ta đến với Thánh Kinh, như chính thánh Biển Đức nói, tu luật chỉ là một bản luật khiêm tốn dành cho người mới bắt đầu đời tu.

 

        2. Sự hoàn thiện Kitô giáo. Lệnh truyền Chúa Giêsu ban cho các môn đệ “Vậy các con hăy nên hoàn thiện như Cha các con trên trời là Đấng hoàn thiện” thực ra là ban cho mọi người. Lệnh truyền này tóm gọn tất cả nội dung Bài giảng trên núi. Như vậy, ơn gọi điển h́nh của đan sĩ hệ tại việc hướng tới hoàn thiện, ở mức độ cao hơn sự hoàn thiện mà mọi người được mời gọi đạt tới. Mặc dầu cuộc sống của đan sĩ đă hoàn thiện hơn do việc từ bỏ mọi sự để chỉ chuyên lo phụng sự Chúa.

       

        Những lời khuyên gọi là lời khuyên “phúc âm” hoàn toàn nằm trong đường hướng “b́nh thường” của Bài giảng trên núi. Thánh Phaolô cho thấy rơ như sau: “Vậy ai có vợ hăy sống như không có;…ai mua sắm hăy sống như không có của ǵ” (1 Cr 7,29-30). Ai dám nói rằng việc từ khước của cải và –không phải chỉ kiêng cữ thôi, nhưng- từ khước sống đời hôn nhân đ̣i buộc những người sống trong thế gian một mức độ t́nh yêu siêu vời? V́ thế, tính cách riêng của đời đan tu không phải là sống theo các lời khuyên phúc âm, được coi như một khoa tu đức về từ bỏ và thánh hóa bản thân. Đương nhiên đời đan tu là một con đường, - con đường không b́nh thường, con đường hẹp (Mt 7,14; x. LMĐ 48) - dẫn tới đức ái hoàn hảo, nhưng giá trị riêng của nó không hệ tại điều đó.

 

        Sự kiện các đan sĩ là một dấu chỉ cho người khác, theo nghĩa cách sống của đan sĩ là một mẫu gương khích lệ mọi người sống trọn vẹn là kitô hữu, cũng không phải là đặc thù của cuộc sống họ. Dù rằng đời sống đan tu được sống đúng như phải sống là một gương mẫu để noi theo đi nữa, giá trị riêng của nó vẫn không hệ tại điều đó.

 

        Đánh giá đời đan tu mà chỉ nh́n nó theo quan điểm thuần đạo đức như một sự dâng hiến khác thường là xỉ nhục Thiên Chúa và tha nhân. Xỉ nhục Thiên Chúa, v́ việc thánh hóa không lệ thuộc “con người muốn hay chạy vạy, nhưng v́ được Thiên Chúa xót thương” (Rm 9,16); xỉ nhục tha nhân, v́ cách nh́n đó, theo quan điểm đạo đức, hàm ư rằng cuộc sống của tha nhân - và tóm lại là t́nh yêu của họ đối với Chúa – có phẩm chất thấp kém hơn. Quả thực, đánh giá quá cao sự thánh thiện đan tu là hạ thấp những khả năng nên thánh thực sự có “trong thế gian”.

 

        II. ĐỜI SỐNG BIỂN ĐỨC

 

1.     Trạng thái bí tích. Từ đầu tới cuối, Tu luật giới thiệu với chúng ta một cuộc sống được diễn tả khá tỉ mỉ, đó là cuộc sống bên ngoài, cụ thể và thực tế. Do vậy nó có tính cách hơi tĩnh. Chỉ có Lời mở đầu và hai chương cuối (72-73) mô tả cách minh nhiên nguồn cảm hứng về cuộc sống ấy, một cuộc sống rơ ràng là năng động: đan sĩ phải luôn luôn tiến lên theo chân Chúa Kitô. Đời sống đan tu chỉ là một h́nh thức sống đời kitô giáo, đan sĩ phải am hiểu giáo lư tổng quát của Kitô giáo.

 

        Như thế Tu luật muốn mô tả một cách sống đời tu. Do vậy có nguy cơ là người đọc ít chú tâm sẽ sợ hăi v́ những chỉ thị nêu ra trong đó. May là thánh Biển Đức rất sáng suốt. Nhờ lương tri và đức tin sống động của ngài mà các chỉ thị ngài đưa ra không bao giờ chỉ là những ḍng chữ gây chết chóc. Không phải vô lư mà Tu luật vẫn tồn tại qua nhiều thế kỷ, trong khi nhiều bộ luật khác đă rơi vào quên lăng.

 

        Tuy nhiên sự giới hạn cũng cho thấy một lợi ích lớn. Thay v́ thoái hóa thành một bản văn có tính xây dựng với nhiều lời khuyên thực hành, Tu luật hiển nhiên là qui chế mang tới cho cuộc sống cụ thể của cộng đoàn đan viện tính cách bí tích. Có thể nói Tu luật diễn tả những nghi thức của một đời sống hoàn toàn được thánh hiến cho Thiên Chúa. Tính cách bí tích của đời đan tu không chỉ dành riêng trong những thời gian cử hành phụng vụ hay trong việc thánh hóa một số phương diện của cuộc sống, như trường hơp các bí tích “thông thường” quen thuộc với chúng ta hơn. Trái lại, tính bí tích cấu tạo nên yếu tính của đời đan tu là sự nối dài trực tiếp mầu nhiệm Giáo hội như bí tích cứu độ của thế giới.

 

2.     Bí tích của Giáo hội. Bí tích là một dấu chỉ thánh không những ám chỉ ơn thánh mà c̣n thực sự thông ban ơn thánh. Bí tích cho chúng ta nhận ra Thiên Chúa hiện diện mà c̣n là nguyên lư thánh thiêng của sự hiệp nhất giữa con người.

 

        Với tư cách là đấng Emmanuel, Thiên-Chúa-ở-với-chúng-ta, Chúa Giêsu Kitô là bí tích tuyệt hảo của sự hiện diện của Thiên Chúa và như vậy là bí tích hiệp nhất chúng ta với Thiên Chúa và hiệp nhất  chúng ta với nhau (x. Cl 1,27; 1 Tm 3,16). Về phần ḿnh, Giáo hội là “bí tích, trong Chúa Kitô, nghĩa là vừa là dấu chỉ vừa là dụng cụ hiệp nhất thân t́nh với Thiên Chúa và hiệp nhất toàn thể nhân loại với nhau” (Vat. II, L.G., 1). Giáo hội là “bí tích phổ quát của ơn cứu độ” (L.G.,48). Điều ấy có nghĩa là bằng những dấu chỉ hữu h́nh Giáo hội làm cho ơn cứu độ được thực hiện cho “mọi người và mỗi người” trong lúc hiện tại (L.G., 9). Điều đó cũng cho phép chúng ta nói Giáo hội là thánh, là bạn trăm năm Chúa Kitô và là thân thể của ngài. Giáo hội là bí tích của Chúa Kitô. Cũng vậy, Giáo hội là bí tích của thế giới, nghĩa là dấu chỉ sự hiệp nhất toàn thể nhân loại.

        Bởi thế, chúng ta phải nh́n Giáo hội – trong Chúa Kitô và không bao giờ ở ngoài Chúa Kitô – như nguyên lư của mọi bí tích hiệp nhất chúng ta với Thiên Chúa và hiệp nhất chúng ta với nhau. Tất cả chúng ta đều biết con số bảy bí tích thánh, nhưng việc thời thượng cổ có trực tiếp xử dụng ư niệm “bí tích” hay không th́ chúng ta ít biết tới. Tuy nhiên, phụng vụ c̣n giữ lại vài thí dụ: ngày lễ Giáng sinh, ngày lễ Phục sinh là những bí tích; Mùa chay cũng là một bí tích. Các dấu chỉ Chúa Giêsu thực hiện là những bí tích hơn là những việc lạ lùng biểu lộ quyền năng của ngài. Giáo hội là bí tích của ơn cứu độ phổ quát, v́ Giáo hội dự phần vào sự sung măn của Chúa Kitô (x. Ep 1,23; Cl 1,19; 2,9). Như thế những bí tích khác nhau phát sinh từ sự sung măn ấy là những dấu chỉ ơn cứu độ, bởi lẽ và v́ thế chúng dự phần vào sự sung măn của Giáo hội. “Loại” ơn cứu độ thực hiện bởi mỗi bí tích tùy thuộc vào loại dấu chỉ.

        Chính trong ư nghĩa này mà cộng đoàn đan viện là một bí tích, chẳng những trong Giáo hội mà c̣n là của Giáo hội. Cộng đoàn đan viện - với tư cách là dấu chỉ - biểu lộ điều làm nên chính yếu tính của Giáo hội. Là nơi Thiên Chúa hiện diện và là nơi chốn của hiệp thông, cộng đoàn đan viện là một dấu chỉ bí tích của mầu nhiệm Giáo hội. Đàng khác, và bằng cùng một cách thức bí tích này, cộng đoàn đan viện thể hiện ư nghĩa sau cùng của Giáo hội. Trước câu hỏi phải chăng trong việc hiệp nhất nội tại với Thiên Chúa ư nghĩa sau cùng đó được thể hiện cho các thành viên của cộng đoàn đan viện chỉ do việc họ thuộc về cộng đoàn, đương nhiên phải trả lới là không. Thực hiện sự hiệp nhất ở mức độ tối thượng không phải là việc riêng của đan sĩ; điều đó liên quan tới ơn gọi cốt yếu của mỗi người.

         Vậy ta có quyền nói: như Chúa Kitô là bí tích của Thiên Chúa, Giáo hội là bí tích của Chúa Kitô. Và như Giáo hội là bí tích của Chúa Kitô, cộng đoàn đan viện là bí tích của Giáo hội. Do đó cộng đoàn đan viện có được ư nghĩa vượt trên phạm vi xă hội và luân lư. Ư nghĩa của cộng đoàn đan viện vượt ngoài mọi mẫu mực có thể có và ngoài mọi tiện ích xă hội, cho dù là trong lănh vực tông đồ bằng phụng vụ chẳng hạn. Trong một cộng đoàn đan viện công cuộc tạo thành đă đạt mục đích. Đàng khác, bao lâu việc tạo thành c̣n đang được thực hiện, cộng đoàn đan viện sẽ là trái tim đang hoạt động khắp nơi cách vô h́nh để làm cho thế giới thăng tiến và có được niềm hy vọng.

 

3. Đời sống thiêng liêng và h́nh thức đời sống bên ngoài. Đoàn sủng của thánh Biển Đức giúp ngài tổ chức đời sống đan tu bên trong một khung cảnh xác định và bền vững, nhưng không v́ thế mà cản trở hoạt động của Thánh Thần (x. 2 Cr 3,17). Nói cách khác, ngài liên kết chặt chẽ đời sống thiêng liêng kết hiệp với Chúa và t́nh yêu hỗ tương giữa anh em vào một nếp sống rất rơ ràng và ở bên ngoài: “theo Tu luật”. Chúng tôi đă gọi cách sống này là nghi thức bí tích. Mối liên hệ giữa nghi thức và cuộc sống nội tâm là đặc tính của đời đan tu trong mọi chi tiết. Mỗi lúc, mỗi người, mỗi nhiệm vụ và mọi sinh hoạt đều giữ vai tṛ bí tích ở bên trong của toàn bộ bí tích. Toàn bộ này hiện diện nơi mổi yếu tố cấu tạo nên nó.

       

        Ở chương 7 của Tu luật, thánh Biển Đức mô tả đời đan tu như việc đi lên một cái thang mười hai bậc. Thân xác và linh hồn là hai thành của thang; mỗi bậc phải được gắn chặt vào cả hai thành. Cuộc sống bên trong và bên ngoài tồn tại là v́ đă được gắn chặt với nhau. Chúng ta chỉ có thể leo lên thang nếu các bậc đều có đủ và được gắn chặt vào hai thành với khoảng cách đều nhau. Để thực hiện một sự liên kết giống như thế giữa đời sống nội tâm và đời sống bên ngoài Tu luật tŕnh bày cho chúng ta một cách tổ chức đời sống đan tu, trong đó các thành phần khác nhau của toàn bộ được tập hợp lại “cách đều ḥa”. Mỗi thành phần làm nên giá trị của toàn bộ. Ta không thể tự ư rút ngắn thang lại như ḿnh muốn được. V́ để trèo lên tới một độ cao nào đó, thang phải có chiều dài xứng hợp.

 

        Nếu cuộc sống bên trong và bên ngoài phải ăn nhịp với nhau như vậy, không lạ ǵ khi thấy cấu trúc bên ngoài của đời đan tu có sự ḥa điệu rất đặc biệt với cấu trúc nền tảng của đời sống thiêng liêng. Từ xưa tới nay người ta phân biệt ba giai đoạn trong đời sống này: giai đoạn thanh tẩy, giai đoạn soi sáng và giai đoạn kết hiệp. Chúng ta được thanh tẩy khi lột bỏ con người cũ, được soi sáng khi chấp  nhận để Thiên Chúa dậy dỗ, và chúng ta được kết hiệp với ngài khi chúng ta ở lại trong t́nh yêu của ngài. Thánh Biển Đức tổ chức cuộc sống bên ngoài của cộng đoàn ngài theo ba giai đoạn trên. Dĩ nhiên ngài chẳng dựa theo một sơ đồ nào cả. Nếu bài tŕnh bày này có tính sơ đồ đó là để dễ dàng đi vào trung tâm của Tu luật. Tiếp đó chúng tôi cũng phải từ bỏ các sơ đồ, v́ các phân biệt theo lư thuyết sẽ tự nhiên biến đi trong cuộc sống cụ thể.

 

III. KHUNG CẢNH ĐỜI SỐNG BIỂN ĐỨC

 

        Trong chương thứ nhất của Tu luật, thánh Biển Đức nói rằng với ơn Chúa giúp ngài muốn viết một bản luật cho các đan sĩ cộng tu, nghĩa là “cho những đan sĩ chiến đấu trong một tu viện, dưới một tu luật và một viện phụ” (1,2). “Monasterium” (48,17; 66,6 và chỗ khác) và “coenobium” (5,12) là những từ ngài dùng để chỉ khung cảnh tổng quát của đời sống đan tu biển đức. Do nguyên ngữ, những từ này cho chúng ta hiểu về cuộc sống tách biệt (monos) và cuộc sống cộng đoàn (koinos). Nhưng trong Tu luật, thánh Biển Đức dùng ba từ đặc biệt để nói về đan viện.

 

1.     Xưởng. Đan viện trước hết là nơi các đan sĩ “ngày đêm xử dụng các dụng cụ thiêng liêng. Xưởng (officina) là nơi họ cần mẫn dùng các dụng cụ để làm việc, đó là nội vi đan viện và sự bền đỗ trong đan viện” (4,75-78). Đan viện là một cái xưởng, đan sĩ là người thợ. Như vậy thánh Biển Đức nhấn mạnh tới việc thanh tẩy nhờ nỗ lực luân lư và sống khổ hạnh. Thánh nhân kể ra các việc lành (4) và đặc biệt bàn về đức khiêm tốn (7). Công việc chân tay cũng được kể tới ở đây (48).

 

2.     Trường học. Tiếp theo, đan viện là “trường học phụng sự Chúa” (Lmđ 45) và đan sĩ là học tṛ (2,5-6). Thánh Biển Đức nhấn mạnh tới sự soi sáng bởi vâng phục (5) và thinh lặng (6), tới việc đọc sách thiêng liêng nữa (48). Cẩn phải thinh lặng để có thể nghe tiếng thầy (6,6).  Ông thầy này là viện phụ, nhưng viện phụ không được dậy ǵ trái với giáo buấn của Chúa (x. 2,4-5). Các đan sĩ làm theo các lệnh truyền của Chúa –trong xưởng- và không được bỏ qua lời giáo huấn nào của ngài –trong trường (x. Lmđ 49-50). Ở đây thánh Biển Đức liên kết hai h́nh ảnh lại với nhau một cách khá mâu thuẫn: chạy mau trên đường khi sống bền đỗ trong đan viện. Các đan sĩ đi đường, v́ họ là lữ khách nơi trần gian; nhưng một cách bí tích, họ ở lại với Chúa.

 

3.     Ở lại. Do đó đan viện mang danh là “nhà Chúa” (31,19; 53,22; 64,5). Đan viện là nhà và đan sĩ là con cái trong nhà. Từ ngữ này nêu cao sự hiệp nhất trong t́nh yêu: chính nơi nhà đó Thiên Chúa ở với chúng ta, nơi đó các bài thánh ca vang dội và nơi đó chúng ta chung sống như anh em (x. Tv 133,1). Nơi nhà này các đan sĩ “muốn có một viện phụ đứng đầu” (5,12), v́ “trong đan viện, ngài đại diện Chúa Kitô, và mang danh hiệu của Người, như  thánh Tông đồ nói: ‘Anh em đă lănh nhận thần khí nghĩa tử, nhờ đó anh em kêu lêu: Abba, lạy Cha’ [Rm 8,15]” (2,2-3). Xin lưu ư là thánh Biển Đức gán danh từ thân mật “cha –abba-“ cho Chúa Kitô, và ngài nói chính từ nơi Chúa Kitô mà viện phụ có được danh xưng của ḿnh. Viện phụ không phải là thủ trưởng hay giám đốc, không phải người bảo vệ hay tướng lănh, cũng không phải bề trên, nhưng là viện phụ. Chỉ có danh xưng này là nổi bật đối với cả cộng đoàn. Đến lượt ḿnh, viện phụ là bí tích của sự Quan pḥng của Chúa trong xưởng, của giáo huấn của Chúa trong trường và của t́nh hiền phụ của Chúa trong nhà.

 

        IV. NẾP SỐNG BIỂN ĐỨC

 

        Ở chương 58 của Tu luật, thánh Biển Đức định nghĩa nếp sống thường xuyên mà đan sĩ gắn bó bằng lời khấn: “Trong nhà nguyện, trước sự hiện diện của mọi người, ứng sinh sẽ hứa bền đỗ, cải tiến và vâng phục trước mặt Thiên Chúa và các thánh của Người” (58, 17-18). Nơi các tu sĩ người ta thường nói tới các lời khấn thanh bần, vâng phục và khiết tịnh. Ba lời khấn này tương ứng với ba giai đoạn thanh tẩy (từ bỏ), soi sáng và kết hiệp. Ba lời khấn ấy cũng tương ứng với ba nhân đức đối thần cậy, tin, mến. Chẳng hạn không ai c̣n nghi ngờ rằng đức trinh khiết thánh hiến vừa diễn tả vừa thực hiện – như các bí tích - sự hiệp nhất với Thiên Chúa trong t́nh yêu. Những động cơ khác, mặc dầu quan trọng, nhưng chỉ là phụ thuộc. Nơi thánh Biển Đức việc phân phối thành ba lời khấn chỉ có tính cách tiềm ẩn, v́ công thức khấn hứa của ngài mang đặc tính đan tu.

 

       1. Đan sĩ hứa cải đổi cách sống. Điều đó hàm ư rằng đương sự sẽ sống “như kitô hữu” (x. 4), nhưng đặc biệt nhắm tới khổ hạnh đan tu. Chương 7 nói nhiều về đức khiêm nhường đan tu. Chương này khác nào như một bộ luật trong Tu luật; có một lời mở đầu, mười hai “chương” (12 bậc khiêm nhường) và lời bạt. Xa hơn, thánh Biển Đức nhấn mạnh rằng từ đó về sau đan sĩ không coi bất cứ cái ǵ là của riêng ḿnh nữa: “họ biết rằng từ ngày đó họ không c̣n quyền cả trên thân xác ḿnh nữa” (58,25). Tuy nhiên thánh Biển Đức không muốn cho đan sĩ phải thiếu thốn điều ǵ. Đúng vậy, để diệt trừ thói xấu giữ của riêng, viện phụ sẽ cung cấp tất cả những ǵ cần thiết…, viện phụ phải luôn suy niệm lời sách Công vụ Tông đồ: ‘cung cấp cho mỗi người theo nhu cầu’ [Cv 4,35] (55,18-20; x.33,1-8). Đối với thánh Biển Đức, vâng phục và thinh lặng đi đôi với nhau (5 và 6), cũng là thành phần của nếp sống đan tu (7,31-43.56-58), và v́ thế có bao hàm khổ hạnh –labor oboedientia [gắng công vâng phục] (Lmđ 2). Ngay cả việc cử hành thần vụ cũng là thực thi một nhiệm vụ và v́ thế phải cố gắng sống khổ hạnh và từ bỏ (50, 4). Mặc dù khổ hạnh là đặc tính của đời đan tu, thánh Biển Đức mong muốn đan sĩ vượt xa hơn khổ hạnh. Thực vậy, nếp sống đan tu cũng đ̣i hỏi đan sĩ phải tôn trọng bảo quản những ǵ được giao cho ḿnh: “Nếu ai cẩu thả trong việc xử dụng đồ của đan viện, sẽ bị khiển trách” (32,4). Thánh Biển Đức c̣n nói: “Quản lư phải coi các dụng cụ và của cải đan viện như b́nh thánh trên bàn thờ” (31,10).

       

        Nỗ lực mà cách sống đan tu này đ̣i phải có làm nên khổ hạnh là thành phần thông thường của giai đoạn thanh tẩy. Khổ hạnh ấy cũng đồng thời là bí tích của việc tự hủy nhờ, với và trong Chúa Giêsu Kitô (Pl 2,7). Như vâng phục và bền đỗ, đọc sách thiêng liêng và thần vụ cũng đ̣i phải “lao nhọc”, phải từ bỏ. Nhưng ngược lại, thánh Biển Đức không ngần ngại coi việc xử dụng các dụng cụ khác như là phục vụ bàn thờ vậy: bởi thế toàn bộ đời sống đan tu trở thành sự biểu lộ và dụng cụ - tức là bí tích - của trạng thái hiệp nhất với Thiên Chúa.

 

2.      Đan sĩ hứa vâng lời Tu luật và viện phụ. Nhưng viện phụ lại “phải luôn luôn hành động với ḷng kính sợ Chúa và nhất là tuân giữ mọi điều trong Tu luật” (3,11). Về cuối Tu luật, thánh Biển Đức c̣n nói rằng ngay cả “anh em cũng thi đua vâng phục nhau” (72,6). Trước hết không phải là vấn đề khó khăn của khổ hạnh, mặc dầu vâng phục là thành phần của cách sống đă được nói tới. Ở đây chúng ta phải nghĩ tới những từ đầu tiên của Tu luật: “Hăy lắng nghe, hỡi con, và ghé tai ḷng con lại” (Lmđ 1). Nhờ vâng phục, đan sĩ sống trong giai đoạn soi sáng. Lời Chúa là “ánh sáng soi đường họ đi” (Tv 119,105). “V́ vâng lời bề trên là vâng lời Chúa, như chính ngài đă nói: ‘Ai nghe các con là nghe Ta’ [Lc 10,16]” (5,15). Sự vâng phục này phải “đẹp ḷng Chúa và vui ḷng người” (5,15). Và “môn đệ phải vâng phục cách vui vẻ, v́ Chúa ưa thích người nào vui vẻ mà cho” [2 Cr 9,7]” (5,16). Một sự vâng phục như thế không phải là hành vi cá nhân nhưng là bí tích vâng phục của chính Chúa Kitô: “Chắc chắn những đan sĩ ấy sống theo gương Chúa Kitô đấng đă nói: ‘Ta không đến làm theo ư Ta nhưng làm theo ư đấng đă sai Ta’ [Gn 6,33]” (5,13; x.7,32-34). Như vậy, trong nhà Chúa vâng phục là việc thiện – bonum oboedientiae (71,1) - nổi bật.

 

3.     Sau cùng đan sĩ hứa bền đỗ. Đây là lời khấn đặc biệt đan tu, không có nơi các tu sĩ khác. Đan sĩ hứa ở lại trong nhà Chúa. Ta thấy trước giai đoạn kết hiệp và sự tương tự với lời khấn khiết tịnh, nhờ đó con người được hiến dâng cho Thiên Chúa. Trạng thái bên ngoài này ám chỉ và thực hiện – như một bí tích - sự hiệp nhất thực thụ với Chúa và với cộng đoàn huynh đệ. Khi đă đọc lời khấn, khấn sinh tự tay đặt bản lời khấn trên bàn thờ. Sau đó đọc câu này: ‘Lạy Chúa, xin nhận con theo lời Chúa và con sẽ được sống; xin đừng để con thất vọng v́ đă trông đợi Ngài’ [Tv 119,116]. Tất cả cộng đoàn lặp lại ba lần và thêm ‘Sáng danh…’. Từ ngày đó đương sự được kể là thành viên của cộng đoàn” (58,20-23). Trong câu trên đây mọi từ đều manh nặng ư nghĩa .

 

        V. NGHĨA VỤ ĐỜI SỐNG BIỂN ĐỨC

       

        Thánh Biển Đức mở đầu ngay phần thực hành của Tu luật khi dành mười hai chương (8-19) để tổ chức các giờ “thần vụ” (22,6-8; 44,1.7; 58,7). Chỗ đầu được dành cho điều quan trọng nhất. Sau đó là những chương tổ chức đời sống cộng đoàn. Chương 48 nói về lao động và đọc sách thiêng liêng. Như vậy có ba sinh hoạt đặc thù của cuộc đời đan sĩ: lao động, đọc sách và thần vụ.

 

1.     Lao động. Lao động, trí thức hoặc chân tay, là một yếu

tố quan trọng của cuộc sống hằng ngày. Đan sĩ không được ở nhưng (48,1). Lao động đ̣i phải có khổ hạnh, không những v́ con người phải đổ mồ hôi trán mới có của ăn (St 3,17-19), nhưng v́ đan sĩ “phải luôn sẵn sàng làm những ǵ được ban lệnh” (48, 6.11.14). Như thế, lao động liên hệ đặc biệt với giai đoạn thanh tẩy. Ở đây đan viện trở nên xưởng theo sát nghĩa đen hơn. Không phải không có lư do khi thánh Biển Đức dùng từ ngữ này để nói về đan viện như nơi chốn đan sĩ thực thi các việc lành thích hợp với bậc sống của ḿnh. V́ lao động, khi phát sinh hiệu quả, cũng là một tác động nhân linh làm cho người lao động nên hoàn hảo. Trong khi lao động các đan sĩ trợ giúp lẫn nhau với t́nh bác ái (x. 35,6; 53,18-20).

 

        Vả lại, chính Thiên Chúa truyền dậy con người phải lao động (St 2,15) khi cho họ được tham gia vào công tŕnh sáng tạo của ngài. Lao động nâng cao phẩm giá con người, lao động tôn vinh Thiên Chúa. V́ thế thánh Biển Đức mời gọi đan sĩ tôn trọng lao động và cần mẫn làm việc (31,10-12; 32,4). Ngài cho rằng “họ chỉ thực sự là đan sĩ, khi sống bằng công việc do tay ḿnh làm, như các linh phụ và các Tông đồ” (48,8). Dĩ nhiên lao động trí thức cũng được thánh Biển Đức trân trọng. Đàng khác, học hỏi, một thứ lao động trí thức, là điều không thể thiếu cho đời sống cộng đoàn cũng như để trợ giúp người khác. Nhiều nơi trong Tu luật có ngụ ư liên quan tới việc học (2,4-6; 8,3; 21,4; 47,3; 64,2-9).

 

        2. Đọc sách thiêng liêng (lectio divina) là yếu tố thứ hai của cuộc sống đan sĩ. Trước hết là đọc Lời Chúa trong Thánh Kinh. Đây là việc lắng nghe hơn là học hỏi. V́ thế đọc sách thiêng liêng gần với cầu nguyện và suy niệm hơn là thu thập kiến thức khoa học. Khi đọc, đan sĩ hướng tâm hồn và ḷng trí lên kết hiệp với Chúa. Việc đọc sách như thế tự nhiên sẽ dẫn đến cầu nguyện “với tâm hồn chăm chú” (52,4).

         Ở chương 73, thánh Biển Đức chỉ định phải đọc ǵ và đọc với tinh thần nào: “Quả thực, có trang nào, lời nào của Chúa trong Cựu và Tân Ước lại không là chuẩn mực hoàn hảo cho cuộc sống con người? Hay có cuốn sách nào của các Giáo phụ công giáo lại không nói rơ cho ta những điều hướng dẫn ta đi thẳng tới Đấng Tạo Hóa? Những bài thuyết tŕnh của các linh phụ, những bản Luật và Tiểu sử các ngài, cũng như bộ Luật thánh phụ Basiliô là ǵ nếu không phải là những dụng cụ để tập nhân đức và để sống thánh thiện dành cho những đan sĩ biết vâng phục?” (73,3-6). Theo cách này, việc đọc sách thiêng liêng có tương quan đặc biệt với giai đoạn soi sáng. Đan viện là một ngôi trường, nơi đó đan sĩ chăm chú đọc và lắng nghe Lời Chúa. Bởi vậy, “viện phụ phải thông thạo luật Chúa, để biết chỗ kín múc điều mới điều cũ [Mt 13,52]” (64,9).

 

       3. Việc Chúa. Nếu đối với Giáo hội “phụng vụ là tột đỉnh mà mọi hoạt động của Giáo

hội hướng tới, đồng thời là nguồn mạch tuôn trào tiềm lực của Giáo hội” (S.C. 10), điều 

đó cũng đương nhiên đúng đối với đan viện. Thánh Biền Đức xác định: “Không có ǵ hơn

việc phụng sự Chúa” (43,3). Những thành ngữ “phụng sự Chúa” và “thần vụ” (43,1) cho

thấy tỏ tường thánh Biển Đức gán cho việc cầu nguyện phụng vụ một giá trị thánh thiêng.

Trong nhà Chúa, nơi đan sĩ gắn bó bằng lời khấn bền đỗ, có thể nói thánh đường là ngôi

nhà thứ hai của Chúa. Chính ở đó đan sĩ thực thi việc Chúa, như việc chính yếu trong các

“bổn phận phục vụ của ḿnh” (16,2). Việc phục vụ này thể hiện theo nghĩa chặt trạng thái

hiệp nhất với Chúa, ít là ở tầm mức bí tích. “Chúng ta xác tín rằng Chúa hiện diện khắp

nơi… Chúng ta càng phải xác tín điều đó  khi chúng ta có mặt để phụng sự Chúa… Vậy

hăy xem ta phải có thái độ nào khi ở dưới con mắt Chúa và các thiên thần của Người, và

trong lúc hát thánh vịnh ta phải làm sao để tâm trí ḥa hợp với lời ca” (19,1-2.6).

 

        Cách sống đan tu thanh tẩy, đọc sách thiêng liêng soi sáng, nhưng việc Chúa kết hiệp chúng ta với Chúa và với nhau. Với việc Chúa cộng đoàn đan viện ở gần mục đích của ḿnh cách rất đặc biệt. Tuy nhiên do một hiệu quả phản hồi của việc Chúa, đọc sách và lao động cũng được thánh hóa và dự phần giá trị của việc Chúa.

 

 

 

 

Thanh tẩy

Soi sáng 

Kết hiệp                                        

 

Khung cảnh sống

 

xưởng

trường

nhà Chúa                  

 

 

 

Trạng thái sống

 

cách sống đan tu

vâng phục 

bền đỗ                                                               

 

Nhiệm vụ sống

 

Lao động

đọc sách thiêng liêng

việc Chúa

                              

                                            

                         

 

          VI. ĐỜI SỐNG CHIÊM NIỆM

 

1.                 Sự hoàn thiện đan tu. Thánh Biển Đức tổ chức đời sống đan tu theo cách mà mỗi yếu tố đều có ư nghĩa liên kết với toàn thể cuộc sống bí tích của sự hiệp nhất với Thiên Chúa. Tính cách chiêm niệm riêng cho nếp sống này lả ở chỗ đó. Ngay h́nh thức bên ngoài đă cho thấy được yếu tố chiêm niệm. Trên đây chúng tôi đă tŕnh bày cách thức Tu luật làm hài ḥa các phương diện khác nhau trong cấu trúc thiêng liêng của mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa: thanh tẩy, soi sáng và hiệp nhất. Nhưng một nguyên tắc nền tảng của Tu luật đ̣i hỏi thái độ tinh thần phải am hợp với h́nh thức bên ngoài.  Đời sống chiêm niệm trong dáng vẻ bên ngoài chỉ có thể đích thực, và thiêng liêng, khi trạng thái chiêm niệm nội tâm am hợp với dáng vẻ bên ngoài ấy.

        V́ thế, một cách tổng quát, thánh Biển Đức đề cao việc Chúa, “không lấy ǵ làm hơn việc Chúa” (x.43,3), cũng như t́nh yêu đối với Chúa Kitô, “không yêu quí ǵ hơn Chúa Kitô” (x.4,21; 72,11).  Nguyên tắc về sự ḥa hợp bên trong với bên ngoài được nhắc lại nhiều lần trong các chi tiết. Như câu ngạn ngữ cổ: hăy noi theo điều bạn cử hành, đó chính là mệnh lệnh đặc trưng về yếu tính của bí tích. “Tâm trí phải hợp với lời ca” (19,7); “đan sĩ không thể lấy việc cát tóc đi tu mà lừa dối Chúa” (1,7); “viện phụ phải hành động cho đúng với danh hiệu của ḿnh” (2,1.30). Giờ Kinh Sáng và Kinh Chiều viện phụ sẽ đọc lớn tiếng kinh Lạy Cha và mọi người lắng nghe “để khi cầu nguyện: ‘Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha cho kẻ có nợ chúng con’, anh em sẽ cố gắng xa lánh nết xấu ấy (sự bất ḥa)” (13,13); “nhà nguyện phải đúng với danh xưng nhà nguyện” (52,1). Nếu thánh Biển Đức không luôn luôn nói tới cách rơ ràng, Tu luật không nhằm việc ǵ khác hơn là tạo lập mối liên hệ hài ḥa giữa tinh thần và h́nh thức bên ngoài.

 

2.                 Lư tưởng kitô. Việc tuân giữ Tu luật dành cho người mới bắt đầu đời tu, như thánh Biển Đức để lại cho chúng ta, phải được hoàn hảo hóa nhờ thực thi giáo huấn của các linh phụ (x.73,2.8-9). Tính cách năng động ấy của Tu luật sánh được với tính năng động của nếp sống đan tu giúp chúng ta vươn tới đức ái hoàn hảo. “Vậy dù con là ai mà đang vội vă đi về quê trời, th́ nhờ Chúa Kitô trợ giúp con hăy giữ trọn bản luật khai tâm nhỏ bé này; như vậy, nhờ ơn Chúa, con sẽ đạt tới những đỉnh cao giáo lư và nhân đức cha đă nói ở trên” (73,8-9). Thánh Biển Đức kết thúc chương nói về mười hai bậc khiêm nhường như sau: “Khi đă trèo lên được tất cả những bậc khiêm nhường đó, đan sĩ sẽ mau chóng đạt tới t́nh yêu hoàn hảo đối với Chúa mà không c̣n sợ hăi [x.1 Gn 4,18]. Nhờ t́nh yêu đó, những ǵ trước đây họ đă giữ v́ sợ, nay họ bắt đầu giữ mà không hề phải sợ, như thể tự nhiên và do tập quán, không c̣n v́ sợ hỏa ngục, nhưng v́ ḷng mến Chúa Kitô, v́ quen làm điều thiện và ham mộ nhân đức. Đó là điều Chúa sẽ khấng nhờ Thánh Linh mà tỏ bày nơi người thợ của ngài đă được thanh tẩy khỏi nết xấu và tội lỗi” (7,67-70).

 

        Tới đây chúng ta lại trở về điểm khởi đầu. Lư tưởng đan tu cũng đồng nhất với lư tưởng kitô: t́nh yêu hoàn hảo. Đức thánh Giáo hoàng Grêgôriô kể rằng thánh Biển Đức “sống dưới cái nh́n thấu suốt của Thiên Chúa… có thói quen cầu nguyện không ngừng” (Đối thoại II, 3.27). Chúng ta thấy cách sống chiêm niệm này trong Tu luật, “v́ người của Chúa không thể giảng dậy ǵ khác với điều ngài đă sống” (ĐT. II, 36). Nên thánh Biển Đức dậy: “Chúng ta xác tín rằng Chúa hiện diện khắp nơi và Chúa nh́n xem người lành kẻ dữ mọi nơi mọi chốn” (19,1; x.7,10.13.27). Thực ra ư thức về sự hiện diện của Thiên Chúa không là ǵ khác với việc cầu nguyện liên lỉ Chúa Kitô truyền cho chúng ta.

 

        Do tự bản chất cuộc sống thiêng liêng hoàn toàn nội tâm này không qui định được bằng các luật lệ. Dầu sao thánh Biển Đức cũng có thể ấn định rơ một số những khoảng thời gian trong ngày dành cho việc cầu nguyện riêng; những lúc đó đan sĩ không có sinh hoạt nào khác, dù là đọc sách thiêng liêng hay hát thánh vịnh, để chỉ lo cầu nguyện riêng. Ngược lại chúng ta thấy thánh Biển Đức dè dặt khi đưa ra một qui luật cố định trong vấn đề này: “Trong cộng đoàn kinh nguyện phải rất ngắn gọn (nói về cầu nguyện âm thầm, riêng tư) và khi bề trên ra hiệu, mọi người cùng đứng lên” (20,5). Hơn thế nữa ngài nhấn mạnh tới sự cần thiết phải cầu nguyện thường xuyên (4,56: frequenter). Những khoảng thời gian trên đây không trực tiếp có ư nghĩa của một tiến tŕnh tâm lư nhằm nâng đỡ tinh thần trong việc cố gắng cẩu nguyện liên lỉ. Ở những khoảng thời gian đó, bằng một thứ bí tích có tính tiêu cực – nghĩa là bằng cách tự giải thoát – đan sĩ chỉ chăm chú vào việc cầu nguyện liên lỉ mà thôi. Những khoảng thời gian ấy mang ư nghĩa là lời cầu nguyện liên lỉ. Nói cách khác: cầu nguyện thường xuyên là dấu chỉ và dụng cụ của việc cầu nguyện liên lỉ.

 

        Thực tại này không c̣n thuộc về lănh vực có thể được qui định theo luật lệ nữa. Nó làm nên cuộc sống chiêm niệm “theo con người nội tâm” (Ep 3,16), cuộc sống mà mọi kitô hữu đểu được mời gọi tham gia. Tuy nhiên, Tu luật lại dẫn chúng ta đi vào con đường cầu nguyện của đời sống kitô giáo. “Khi cầu nguyện phải ngắn gọn và tinh tuyền, trừ khi được ơn Chúa đánh động mà kéo dài thêm” (20,4). “Khi việc phụng sự Chúa kết thúc, mọi người phải rất mực thinh lặng đi ra trong sự tôn kính Chúa; để nếu có ai muốn cầu nguyện riêng, sẽ không bị người khác ngăn trở. Vả lại, nếu anh em nào muốn âm thầm cầu nguyện một ḿnh, họ cứ vào mà cầu nguyện, không lớn tiếng nhưng với nước mắt và tâm hồn chăm chú” (52,3-4).

 

        Khi kết thúc Lời mở đầu Tu luật, thánh Biển Đức tóm gọm mục đích mà đời đan tu phải đạt tới như sau: “Càng tiến tới trong cuộc đời thánh thiện và trong đức tin, với tâm hồn rộng mở và với t́nh yêu ngọt ngào khôn tả chúng ta sẽ chạy nhanh trên đường giới răn Chúa. Như vậy, khi trung thành tuân giữ giáo huấn và sống theo giáo lư của ngài trong đan viện cho tới chết, chúng ta sẽ nhờ kiên nhẫn mà dự phần những đau khổ của Chúa Kitô để được nhận vào vương quốc của ngài” (Lmđ 49-50).

        Ta hiểu được tại sao các nghị phụ Công đồng Vatican II không ngần ngại tuyên bố “đời sống chiêm niệm là sự hiện diện tràn đầy của Giáo hội” (Ad Gentes, 18; x. 40).

 

Pierre Roose OSB.

Collectania Cisterciensia

T.42-1980-4


 

[1]  Những con số để sau các trích dẫn Tu luật thánh Biển Đức chỉ chương và câu tương ứng. Các qui chiếu về Lời Mở Đầu sẽ ghi số của câu trong Lời Mở Đầu.