NỘI VI, THANH VẮNG
VÀ CANH GIỮ CON TIM
(Bài thuyết tŕnh trong cuộc Gặp gỡ lần 2 giữa các giáo dân xitô, tại Conyers, từ 24 đến 30.4.2002).
Chủ đề được chọn để chúng ta suy niệm có thể hơi kỳ. Tất nhiên nội vi liên quan tới các đan viện, nhưng có nghĩa ǵ đối với giáo dân, những người sống cuộc đời bận rộn giữa thế gian ồn ào náo nhiệt?
Có hai lư do đă khiến tôi chọn chủ đề này. Trước hết, nội vi là một thực tại của đời sống các đan sĩ xitô, và chúng ta học hỏi cũng như trao đổi để biết chúng ta đă được mời gọi sống thực tại này cách đích thực vào thế kỷ 21 như thế nào. Như vậy, đây là một chủ đề rất thời sự.
Lư do thứ hai đến từ kinh nghiệm của các Hội viên xitô ở Iowa. Cách đây chừng hai năm, các Hội viên ấy đă yêu cầu tôi nói về nội vi để giúp họ hiểu nội vi là ǵ, và để họ cố gắng sống tốt hơn ư nghĩa nội vi trong cuộc sống của họ. Tôi đă thực hiện lời yêu cầu, và chúng tôi đă trao đổi về những mức độ khác nhau của nội vi. Sau cùng chúng tôi đi tới câu hỏi này: “Việc sống nội vi đan tu có liên quan tới cuộc đời của giáo dân không?” Một năm sau, tôi được biết nhiều hội viên rất yêu thích nội vi đan tu và đă có những thay đổi quan trọng về cách sống theo tinh thần nột vi và thanh vắng nơi con tim. Tôi rất súc động v́ sự đáp ứng nghiêm túc của họ. Tôi sẽ chia sẻ với các bạn sau một vài kinh nghiệm của những hội viên ấy.
Nội vi đan tu
Trước hết chúng ta hăy xem đối với đan sĩ nội vi là ǵ. Đâu là giá trị và mục đích của nội vi? Chúng ta sống nội vi như thế nào? Có ba cách hiểu từ nội vi.
1. Nội vi theo phương diện vật chất. Nếu quí vị thấy một tấm bảng có từ “nội vi” gắn trên cổng hay cánh cửa, quí vị biết ngay chỉ có những người thuộc về cộng đoàn đan viện mới sống bên trong ranh giới đó. “Nội vi” là một không gian đặc biệt, được ấn định rơ ràng, chỉ những thành viện của cộng đoàn mới được vào trong đó, và họ chỉ ra khỏi đó khi có lư do thật rơ ràng.
2. Ta cũng có thể hiểu nội vi theo phương diện pháp lư. Có “nội vi giáo hoàng”, “nội vi theo hiến pháp”, và hiện nay đan sĩ xitô chúng ta có “nội vi đan viện”. Những hạn từ này tương ứng với những luật lệ khác nhau. Để được Giáo hội nh́n nhận như một ḍng đan tu, chúng ta phải chọn h́nh thức nội vi am hợp nhất với cách sống của chúng ta, và Giáo hội sẽ phê chuẩn chọn lựa này. Sau đó các cộng đoàn và các thành viên phải tôn trọng khuôn khổ pháp lư ấy.
3. Từ đó dẫn đến phưong diện thứ ba. Nội vi pháp lư hay đúng hơn nội vi vật chất có hay phải có hiệu quả ǵ đối với đời sống thiêng liêng của đan sĩ? Trong Thư gửi toàn Ḍng năm 1985, Dom Ambrose Southey viết: “Nội vi không phải là một giá trị đan tu. Đó là một trợ giúp vật chất để bảo vệ một điều có giá trị đan tu: sự thanh vắng”. Nói cách khác, ta có thể đề cập tới sự tinh tuyền của con tim.
Sự tinh tuyền của con tim, canh giữ con tim
Cassien dạy rằng sự tinh tuyền của con tim là mục đích đời đan tu. Tôi coi qui luật nội vi như việc canh giữ con tim. Thực hiện việc canh giữ con tim là nh́n nhận rằng có nhiều cái tự nó là tốt, nhưng có lẽ không giúp cho con tim tôi lớn lên trong t́nh yêu, trong niềm thương cảm, không giúp tôi qui hướng về Chúa Giêsu, và hiến dâng ḿnh cầu nguyện hằng ngày hằng giờ cho Nước Chúa trị đến. Có nhiều cái tốt, nhưng canh giữ con tim là không ngừng nhận ra tiếng gọi của Chúa, tiếng gọi tới t́nh yêu. Canh giữ con tim là loại ra khỏi căn pḥng nội tâm cái ǵ là hời hợt: tính ṭ ṃ, những ác ư phá hủy vương quốc b́nh an của Chúa trong tâm hồn chúng ta.
Trong một tài liệu mới đây về nội vi, một nữ đan sĩ xitô viết: “Được khổ hạnh thanh tẩy, con tim của đan sĩ trở nên không gian nơi mà tất cả tạo thành đi vào sự thinh lặng của Thiên Chúa và sự thanh vắng của tôn thờ. Nội vi thực sự là trái tim của con người được thánh hiến cho t́nh yêu Thiên Chúa không chia sẻ, chứ không phải khoảng không gian đóng kín của đan viện”.
Và Dom Bernado, trong bài chia sẻ tại Thượng hội đồng giám mục về đời sống tu tŕ, đă nói: “Sự thanh vắng của con tim và sự tâp trung trọn sức lực vào việc t́m Chúa đ̣i phải có thanh vắng nội tâm được tăng cường bằng thanh vắng bên ngoài”.
H́nh ảnh cánh cửa
Cửa có hai nhiệm vụ: cho vào hay ngăn cản không cho vào, cho ra hay ngăn cản không cho ra. Vậy chúng ta có thể tự hỏi nội vi loại khỏi đan viện những ǵ. Ở thế kỷ 12, thánh Bênađô đă kê ra một danh sách mà ngày nay vẫn c̣n giá trị:
“Bạn sẽ ở một ḿnh, nếu bạn không tưởng nghĩ tới những cái tầm thường, nếu bạn không yêu thích những cài hiện tại, nếu bạn coi thường cái được số đông người ca tụng, nếu bạn cảm thấy chán ngấy cái mà mọi người ao ước, nếu bạn tránh căi cọ, nếu bạn b́nh thản khi bị thiệt tḥi, nếu bạn không nhớ tới những xỉ nhục phải chịu”. [1]
Tôi muốn thêm vào danh sách trên đây vài ba “ác thú” của thế kỷ 21 mà chúng ta muốn cản không cho vào: sự tiêu thụ quá mức, chủ trương duy vật và tục hóa trong các nền văn hóa của chúng ta, những ngẫu thần của thế giới nhàn hạ và thể thao, và sự tràn ngập thông tin - luôn phải phân định ranh giới tinh vi giữa điều cần biết để mang vào lời cầu nguyện của chúng ta những gánh nặng, những đau thương của thế giới, và những cái muốn biết chỉ v́ ṭ ṃ. Tôi cũng muốn nêu lên câu hỏi sau đây để phân định: thế nào là nhàn rỗi và nghỉ ngơi cần thiết và chính đáng? Dĩ nhiên quí vị có thể nêu nhiều câu hỏi khác nữa dựa theo kinh nghiệm của quí vị.
Chúng ta vừa dùng h́nh ảnh cánh cửa ngăn cản đi vào, như dấu chỉ một ǵới hạn. Bây giờ tôi muốn nói đôi lời về điều được sống bên trong cánh cửa hay bên trong nội vi. Vào đan viện năm 1956, hằng ngày tôi đă thấy nhiều điều bên trong cánh cửa hay bên trong nội vi. Với tôi, cánh cửa hay nội vi đă không bao giờ là một rào cản hay là cái ǵ tù hăm. Thực vậy, tôi cảm thấy hiệp nhất với thế giới cách sâu xa, đặc biệt là vớí những người đau khổ. Tôi biết có những đan sĩ nam nữ được mời gọi hiệp nhất rất sâu xa với Chúa Kitô qua những con người đau khổ bằng nhiều cách khác nhau. Tôi biết một nữ đan sĩ đă có niềm cảm thương lớn lao với các phụ nữ, đặc biệt trong thế giới đương thời, và cầu nguyện trong nước mắt cho những người bị bạo hành. Quả thực, dường như khi những kinh nghiệm và những dấn thân bị giới hạn và giảm thiểu th́ chúng ta lại sống ở mức độ sâu sắc hơn. Đó không phải là hiện tượng riêng nơi các đan sĩ, nhưng đó là kết qủa có được từ sự thanh vắng lớn hơn và từ việc canh giữ con tim cách ư thức hơn.
Một khoảng không gian nào đó là cần thiết để chúng ta có thể chiếu tỏa ánh sáng sự hiện diện của Chúa và mang lấy những tối tăm hay cái xấu từ những bóng tối của chúng ta cũng như những tối tăm của người khác, và t́m cách giải đáp theo chiều sâu. Khoảng không gian ấy có thể là khoảng không gian vật lư, như trường hợp của các đan sĩ. Với giáo dân, khoảng không gian ấy có thể là khoảng không gian tiềm ẩn. Đó là thách đố đối với quí vị, những giáo dân xitô.
Hoán cải, cảm thương và chiêm niệm
Yếu tính của nội vi là canh giữ con tim. Mục đích của canh giữ con tim là hoàn toàn sẵn sàng đối với Chúa và với việc hoán cải, cảm thương và chiêm niệm mà Chúa mời gọi chúng ta thực hiện trong tư cách là đan sĩ xitô hay giáo dân xitô.
Tôi muốn nói đôi lời về bộ ba này. Hoán cải, cảm thương và chiêm niệm là những nền tảng của linh đạo xitô. Thánh Bênađô nói về bộ ba này như về ba cấp độ của sự thật [2]: cấp thứ nhất là biết ḿnh, là ư thức triệt để về ḿnh, cách hoàn toàn ngay thẳng. Tôi nhân ra ḿnh là h́nh ảnh của Thiên Chúa, là đứa con yêu thương của Chúa, được ân sủng ngài nâng đỡ. Tôi cũng nhận ra ḿnh là h́nh ảnh Thiên Chúa bị biến dạng, v́ chểnh mảng, kiêu ngạo, v́ cách ăn nói nâng ḿnh lên trên Chúa và người khác. Cái nh́n ngay thẳng về ḿnh như thế là bước đầu của hoán cải, là vượt khỏi chính ḿnh.
Khi ơn hoán cải hoạt động trong tôi, tôi khám phá ra cấp bậc thứ hai của sự thật: cảm thương. Tôi nhận biết và hiểu người khác nhờ kinh nghiệm về nỗi yếu đuối của riêng ḿnh. Ta không học biết cảm thương nhờ sức mạnh. Ta học biết cảm thương qua sự yếu đuối của ḿnh.
Trong nhận thức về nỗi yếu đuối, tính dễ bị tổn thương của ḿnh và của người khác, con tim chúng ta được thanh tẩy và Thiên Chúa tỏ ḿnh ra cho chúng ta bằng nhiều cách khác nhau. Chúng ta thấy Chúa. Đó là chiêm niệm. “Phúc cho những con tim trong sạch, v́ sẽ nh́n thấy Chúa”.
Đó là công việc của các đan sĩ xitô - lao công hoán cải, bác ái cảm thương và niềm vui chiêm niệm. Phải không ngừng làm việc, v́ không bao giờ đạt được những điều đó một lần rồi thôi, nhưng phải tiến tới măi măi. “Nhà xưởng nơi chúng ta phải trung thành làm những việc ấy chính là nội vi đan viện và sự vĩnh cư trong cộng đoàn” (TLBĐ 4, 78).
Nội vi đối giáo dân
Chúng ta hăy trở lại với nội vi. Tôi không cho là ḿnh biết được các giáo dân có thể áp dụng việc giữ nội vi đan viện vào cuộc sống họ như thế nào. Một vài Hiệp hội đă nhắc tới những thay đổi họ áp dụng trong cách sống hay nói tới một số ư tưởng đă đến với họ. Ta có thể gom lại thành ba loại: khoảng không gian thánh thiêng, việc xử dụng các phương tiện truyền thông và sự tôn trọng con người.
Khoảng không gian thánh thiêng
Phần đông quí vị đều sắp xếp một nơi riêng trong nhà để sống thinh lặng và cầu nguyện. Như thế không phải là để sống cô lập khỏi gia đ́nh hay bạn hữu, nhưng để các bạn tĩnh niệm và tập trung nhiều hơn về Chúa. Sau đây là vài thí dụ: với một đôi vợ chồng, khoảng không gian hằng ngày để cầu nguyện là chiếc xe hơi, khi cùng nhau đi làm mỗi sáng. Lời ca ngợi buổi sáng và lời cầu nguyện âm thầm là chuẩn mực cho ngày sống của họ. Với người khác, văn pḥng làm việc ở lầu ba trở thành “nội vi”, bởi lẽ ít có người qua lại trên đó.
Suy nghĩ về sự thanh vắng đôi khi có thể giúp chúng ta quí chuộng hơn sự thanh vắng đă có sẵn trong cuộc sống chúng ta. Một người sống một ḿnh cho tôi hay cuộc trao đổi về nội vi đă giúp người ấy nhận ra giá trị cái nội vi mà ḿnh đă không chọn cho có: “Nó chẳng có nghĩa ǵ đối với tôi, cho tới khi tôi coi nó như chiều kích đan tu tự nhiên của đời tôi”.
Việc xử dụng các phương tiện truyền thông
Các phương tiện truyền thông, như truyền h́nh, phim ảnh, báo chí, là những lănh vực mà nhiều người thấy cần phải hạn chế. Tôi biết có những đôi vợ chồng đă bỏ hẳn truyền h́nh hay chỉ xem hết sức hạn chế. Một Hiệp hội viên đă nói với tôi về những tác động trên đời sống nội tâm của ḿnh do nội dung của truyền h́nh. Đó không phải là nỗi sợ trước những nội dung kém giá trị của truyền h́nh, nhưng là một phản ứng trước những điều truyền h́nh tŕnh bày về văn hóa và về thế giới chúng ta đang sống. Đối với tôi, những điều trên đây là dấu chỉ của việc quan tâm canh giữ con tim cách tích cực.
Tôn trọng con người
Tôn trọng con người và cởi mở cụ thể trong lời cầu nguyện trước những nhu cầu của người khác là một điều ưu tiên. Ư thức về sự quân b́nh và khả năng đặt ra các giới hạn là điều cần thiết trong cuộc sống giáo dân cũng như trong cuộc sống đan tu, giống như phải phân định khi có người đến làm phiền chúng ta: phải chăng đó là Chúa Kitô đến với ta, hay đó là một thách đố mà ta nên tránh đi th́ hơn?
Cái b́nh lọc
Ta có thể nói về việc phân định như về một cái b́nh lọc. Trước mỗi tác động, mỗi công việc, mỗi gặp gỡ, ta đặt câu hỏi: “Điều đó sẽ giúp tôi sống đời sống thiêng liêng, t́m Chúa trong mọi biến cố và sinh hoạt của đời tôi như thế nào?” Nhiều người rất hiểu biết đă xử dụng cái b́nh lọc này, nhất là trong nền văn hóa của chúng ta, nơi mà giác quan không ngừng bị kích thích; nhưng họ dùng cái b́nh lọc này v́ những lư do khác.
Ngăn cản những chuyện đó thâm nhập vào chúng ta chỉ là một mặt của cái b́nh lọc này, một mặt khác là đón nhận chúng. Nội vi, đó cũng là đón nhận vào khoảng không gian nội tâm của ḿnh những sự việc và những người sẽ giúp chúng ta sống cách ư thức hơn trưóc sự hiện diện của Chúa và khám phá ra cái tôi thực của ḿnh. Như vậy, ư nghĩa của nội vi được mở rộng để bao gồm toàn thể cộng đoàn - một nhóm người nhận ra ḿnh cần đến cái b́nh lọc và hướng tới cùng một mục đích.
Tôn trọng sự thánh thiêng
Sau cùng tôi muốn nói tới một phương diện của thanh vắng và việc tôn trọng sự thánh thiêng nơi tha nhân, điểm đặc thù của những người làm vợ làm chồng. Tôi xin trưng lại những lời của một người đă nói tốt hơn là tôi có thể nói:
“Tôi để ư hơn đến chiều kích bí tích của cuộc hôn nhân giữa chúng tôi và tới sự kiện bí tích hôn nhân là nguồn mạch ân sủng cho đời tôi. Kết hôn có nghĩa là cố gắng hoàn toàn cởi mở và dễ gần gũi đối với nhau, không giữ ǵ cho ḿnh, không có những bí mật và chấp nhận có thể bị tổn thương. Nhưng kết hôn cũng có nghĩa là không đ̣i hỏi những chuyện điên rồ, không mong ước quá điều người khác có thể trao tặng. Theo ư nghĩa ấy, nội vi là một điểm quan trọng trong cuộc hôn nhân của tôi, và nội vi bao hàm việc cố gắng tôn trọng những lănh vực của người khác mà chúng ta không có quyền xâm nhập”.
Để kết luận, tôi xin cám ơn tất cả những ai đă chia sẻ với chúng tôi về cách họ sống điều cốt yếu của nội vi, là thanh vắng và canh giữ con tim. Tôi cũng xin cám ơn quí vị tất cả, những người đang lắng nghe Thần Khí của Chúa trong cuộc đời ḿnh. Tôi nghĩ rằng người ta có thể ứng dụng rất tốt đoàn sủng linh đạo xitô, và Thần Khí sẽ tràn đổ hồng ân của ngài như Thiên Chúa muốn. Chúng ta biết rằng t́nh yêu được bảo đảm là chân thật theo mức độ nó được chia sẻ đi. Tôi nghĩ rằng linh đạo cũng thế. Linh đạo sẽ sống động hơn và đi vào chiều sâu khi có nhiều người t́m hiểu và áp dụng cho cuộc sống của ḿnh.
Điều thoạt đầu có sức thu hút các tâm hồn tới một nơi chốn, một đan viện, sau đó sẽ có thể trở nên nguồn sống mới và sự phong phú lớn lao cho Nước Chúa. Điều đó mời gọi các đan sĩ chúng ta phải là đan sĩ cách đích thực hơn nữa. Khi t́m cách trở nên những đan sĩ đích thực hơn chúng ta sẽ được khích lệ để sống khiêm tốn hơn.
Xin kết thúc bằng lời cầu mong của thánh Biển Đức: “Nguyện Chúa Kitô dẫn đưa tất cả chúng ta đến cuộc sống muôn đời” (TL 72, 11).
Gail FITZPATRICK, OCSO
Viện mẫu
Collectanea Cisterciensia
T 64, 2002,3.
[1] BERNARD DE CLAIRVAUX, Bài giảng về sách Diễm ca, T. 3, Cerf, Paris, 2000, S.C. n. 452: Bài giảng 40, 5, tr. 183.
[2] BERNARD DE CLAIRVAUX, Bàn về các bậc khiêm nhường và kiêu ngạo.