THINH LẶNG CỦA CHÚA KITÔ
THINH LẶNG ĐAN TU
I. THINH LẶNG TRONG MẦU NHIỆM CHÚA KITÔ
Khi suy nghĩ về những yêu sách của thinh lặng đan tu, chúng ta buộc phải cứu xét đến chuẩn mực cuối cùng, đó là thinh lặng của chính Chúa Kitô. Nhưng thinh lặng ghi dấu quá sâu đậm vào toàn thể mầu nhiệm Chúa Kitô nên trong khuôn khổ những trang này không thể nói ǵ khác ngoài những tiếp cận rất ǵới hạn thôi. Những tiếp cận này sẽ dần dần đưa chúng ta tới một vài phương diện quan trọng nhất nơi thinh lặng của Chúa Kitô.
Tất cả cuộc đời Chúa Giêsu mặc khải cho chúng ta vị trí rất lớn của thinh lặng trong toàn bộ mầu nhiệm của ngài:
1. Thinh lặng và đời sống ẩn dật. Mặc dầu Thánh Kinh ít nói về sự thinh lặng của Chúa Giêsu, chúng ta cũng không được quên rằng ngài đă trải qua phần lớn cuộc đời dương thế trong nếp sống thinh lặng tại Nadaret. Sự kiện đơn giản này cho chúng ta thấy thinh lặng có thể nói là bản tính của Chúa Giêsu. Ngôi Lời thành xác phàm đă giữ thinh lặng trong ba mươi năm!
2. Thinh lặng chống lại ồn ào. Trong cuộc sống công khai, Phúc Âm cho thấy Chúa Giêsu không ưa tiếng động, sự ồn ào, tiếng kêu la. Được dẫn đến với Chúa Giêsu, người bị thần ô uế nhập “gào thét” lên (Mc 1, 23-24), người bị quỉ nhập ở Ghêrasa “kêu lớn tiếng” (Mc 5, 7), thằng quỉ câm “thét lên” và lay đứa trẻ rất mạnh (Mc 9, 26), đám đông “khóc lóc kêu la ầm ĩ” (Mc 5,38).
Đối lại với những tiếng ồn đó, Chúa Giêsu chỉ nói nhẹ nhàng, vắn gọn: “Câm đi!”, như ngài bảo thần ô uế (Mc 1,24; Lc 4, 35), bảo mặt hồ dội sóng (Mc 4, 39) hay: “Tại sao mà ồn ào?” (Mc 5, 39). Khi ngài có mặt là ồn ào bùng ra, nhưng ngài chế ngự ngay bằng sức mạnh nhiệm mầu của thinh lặng và b́nh an nơi ngài (Mc 4, 39; 5, 15; 6, 50-51; 9, 26…). Tiên tri Isaia đă nói: “Ngài không kêu la, …không lớn tiếng” (42, 2).
3. Thinh lặng-kín đáo. Hoạt động công khai của Chúa Giêsu luôn luôn diễn ra rất kín đáo. Trước đám đông sửng sốt thán phục và náo nhiệt v́ những phép lạ ngài làm, Chúa Giêsu lại tỏ ra chán ghét cái danh tiếng tạm bợ và rẻ tiền ấy. Ngài rất sợ những lời ca tụng của con người gây phương hại cho sứ mệnh cứu thế của ḿnh. Khi đă chữa người mù ở Betsaiđa, ngài bảo anh ta: “Anh chớ vào làng!” (Mc 8, 26); và ngài bảo người bệnh phong vừa được ngài chữa khỏi: “Anh hăy cẩn thận, đừng nói ǵ với ai!” (Mc 1, 44); với người câm điếc (Mc 7,36) và với ba môn đệ từ trên núi Tabo xuống (Mc 9,9) ngài cũng căn dặn như thế. Nhưng, v́ người ta không thể âm thầm giữ kín niềm vui do những ân huệ đă nhận được nên Chúa Giêsu phải lánh đi. “Ngài không thể công khai vào thành nào được, nhưng ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành” (Mc 1, 45). Sự kiện đám đông loan truyền cách bồng bột những biểu lộ diệu kỳ của mầu nhiệm Chúa Giêsu khiến người ta mộ mến ngài theo chiều hướng xă hội quá đáng và có nguy cơ gây tổn hại cho công việc giáo dục đầy nhẫn nại của ngài để dẫn đưa con người tới đức tin. Vinh quang nhân loại luôn luôn có nguy cơ chiếm chỗ của Chúa Kitô trong các tâm hồn. V́ thế ngài “không nói ǵ với họ mà không dùng dụ ngôn, nhưng ngài lại giải thích hết cho các môn đệ” (Mc 4,34) và ngài chúc tụng Cha ngài đă “giấu các nhà khôn ngoan thông thái những điều ấy” và đă “mạc khải cho những kẻ bé mọn” (Mt 11, 25). Đó là tất cả bước khởi sự đi vào mầu nhiệm Nước Trời (x. Mc 4, 11-12) có liên quan trong sự thinh lặng-kín đáo này.
4. Thinh lặng và thanh vắng của sa mạc. Nếu Chúa Giêsu ở lại những nơi vắng vẻ, chính v́ có sự tương hợp nhiệm mầu nào đó giữa ngài và những nơi ấy. Ngay sau khi ngài chịu phép rửa, Thánh Thần đẩy ngài vào sa mạc (Mc 1, 12). Chính “trong nơi vắng vẻ” mà ngài đă làm cho các môn đệ lấy lại sức (Mc 6, 31), mà ngài dậy dỗ và cho dân chúng ăn (Mc 6, 34-44), mà ngài t́m đến để cầu nguyện (Mc 1, 35). Chính nơi thanh vắng của núi đồi mà ngài đưa ông Phêrô, ông Giacôbê và ông Gioan tới khi ngài biến h́nh hay khi ngài hấp hối (Mc 9, 2; 14, 33).
Nơi bản thân ngài tóm gọn lại tất cả kinh nghiệm thiêng liêng mà Israel đă có nơi sa mạc. Trong Thánh Kinh, sa mạc là phần đất cằn cỗi, không cây, không trái, không nước, không đường đi, không người hướng dẫn, vùng đất chết và bị chúc dữ, nơi ưa thích của Kẻ Thù. Nhưng đó cũng là vùng đất mà trong cuộc xuất hành Thiên Chúa dẫn đưa dân ngài vào để cho họ thấy quyền năng của ngài và để thử thách họ.
Khi ở trong sa mạc lâu ngày, Chúa Giêsu cũng trải qua những thử thách về sự tin tưởng, vâng phục, nghèo khó và về việc phụng sự Thiên Chúa như Israel đă trải qua. Nhưng ngài đă thắng Kẻ Thù và tước đoạt chủ quyền của nó. Như vậy ngài đă làm chủ sa mạc và trở nên nguồn ơn cứu độ cho dân ngài. Phải chẳng điều đó đă không phản ánh nơi Phúc Âm, đặc biệt là nơi thánh Gioan, khi Chúa Giêsu tuyên bố ngài là nước ban sự sống, bánh bởi trời, manna, ánh sáng hay cột lửa, con đường, người dẫn lộ và mục tử. Tất cả ư nghĩa thiêng liêng của thanh vắng và thinh lặng trong sa mạc đều tái xuất hiện nơi Chúa Giêsu.
5. Thinh lặng-thân mật. “Ban ngày Chúa Giêsu giảng dậy trong Đền Thờ; nhưng đến tối Người đi ra và qua đêm tại núi gọi là núi Cây Dầu. Sáng sớm, toàn dân đến với Người trong Đền Thờ để nghe Người giảng dậy” (Lc 21, 37-38).
Chúng ta biết rằng nơi thanh vắng mà Chúa Giêsu t́m đến chưa diễn tả được tất cả những ǵ người ta muốn nói về sự thinh lặng của ngài. Thanh vắng chưa phải là tất cả nội dung của thinh lặng. Ở một ḿnh trên núi Horeb, nhưng tiên tri Êlia vẫn phải học cho biết thế nào là thinh lặng, nơi Thiên Chúa ẩn ḿnh: “tiếng ŕ rào của làn gió nhẹ”! Ai sẽ nói cho chúng ta hay về sự thân mật nhiệm mầu giữa Chúa Giêsu và Cha ngài trong thinh lặng của những đêm nguyện cầu? Chúng ta chỉ có thể phỏng đoán rằng ngài đă lắng nghe Cha ngài cách vô cùng tinh tế, đă tha thiết khẩn cầu, đă bày tỏ ḷng tri ân hiếu thảo, đă nồng nàn yêu mến và kính trọng Cha. Tất cả những điều đó mang lại cho lời giảng dậy của ngài sáng hôm sau một sức thu hút mănh liệt. Ngài hoàn toàn thuận hợp theo tư tưởng, ư muốn và lời của Cha. Ngài luôn chăm chú lắng nghe lời Cha, ngài là tiếng vọng tuyệt hảo của lời Cha, ngài chính là Ngôi Lời Thiên Chúa. Thánh Gioan Thánh Gía nói: “Cha trên trời chỉ có một lời, đó là Con của ngài. Ngài nói lời ấy từ muôn thủa trong thinh lặng muôn thủa, và chính trong thinh lặng của tâm hồn mà lời ấy lên tiếng” [1]. Ḷng yêu mến Chúa Cha thúc đẩy Chúa Giêsu sống mật thiết với Cha trong thinh lặng sâu thẳm. Như cha Hausherr nói: “Càng gần gũi thân mật với Đấng Duy Nhất, người ta càng ít nói, càng trở nên thầm lặng, câm nín, và không chịu được tiếng động dù nhỏ nhất, nó khác nào như một lưỡi dao đâm. Người ta chán ghét tiếng nói, dù là trong nội tâm, nó giống như tiếng chó sủa giữa cái thinh lặng khi tôn thờ Chúa ban đêm” [2].
6. Thinh lặng và từ bỏ ḿnh. Khi mặc khải cho chúng ta t́nh thân mật thắm thiết với Chúa Cha, Chúa Giêsu không chỉ muốn nên gương mẫu bên ngoài cho sự thinh lặng của chúng ta, nhưng nhất là ngài muốn dẫn chúng ta theo gương ngài mà từ bỏ ḿnh, đó là điều kiện để được đón nhận mặc khải của ngài. “Không ai biết Chúa Cha trừ Chúa Con và người nào Chúa Con muốn mặc khải cho” (Mt 11, 27). Để chúng ta, những kẻ điếc, có thể đón nhận ngài, th́ bằng việc nhập thể, Ngôi Lời đă vào trần gian, một điều chưa từng thấy. Đó là từ bỏ ḿnh, là cởi mở và vâng phục trong thinh lặng, là tự hủy hay trở nên trống không, nhờ vậy mà thế giới sẽ được đem trở lại t́nh trạng gần như nguyên thủy trong bàn tay tạo dựng của Chúa Cha. Chúa Kitô chuẩn bị một cuộc tạo thành mới theo cách đó. “Người ta không đựng rượu mới trong bầu da cũ” (Lc 5, 38), “người ta không lấy miếng vải mới để vá áo cũ” (Lc 5, 36). Để thực hiện trong thế giới điều mới mẻ của Đấng đă tuyên bố: “Này đây ta đổi mới mọi sự” (Kh 21, 5), xem ra phải cần có đoạn tuyệt cách nào đó giữa cái cũ và cái mới, “cũ kỹ và lỗi thời”, một lỗ hổng, lỗ hổng của bỏ ḿnh hoàn toàn và của thinh lặng nơi toàn hữu thể trước nhan Chúa Cha. Từ lỗ hổng ấy ngài đợi chờ một trật tự mới sẽ sinh ra.
“Cần phải dốc sạch b́nh, phải gắng sức chà cọ thật mạnh cho sạch b́nh để nó có thể chứa đựng được thực tại nhiệm mầu này” [3]. Tất nhiên Chúa Giêsu mời gọi những ai nghe ngài kể dụ ngôn noi theo ngài mà thực hiện “thinh lặng-bỏ ḿnh”, trong khi giúp họ hiểu hơn mầu nhiệm của ngài. Ngài mời gọi họ vượt lên trên những cuộc gặp gỡ quá hời hợt và sức lôi cuốn của những cái kỳ diệu lạ lùng để gặp ngài ở mức độ cao hơn, mức độ từ bỏ chính ḿnh, để mất chính ḿnh, tự xóa ḿnh đi v́ yêu mến một Đấng Khác mà ngài quí chuộng hơn chính ḿnh. “Ngài đă không dành cho được ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đă hủy ḿnh ra không, mang lấy thân nô lệ, nên giống như người phàm. Ngài c̣n hạ ḿnh hơn nữa khi vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá” (Pl 2, 6-8). Sự triển nở tṛn đầy trong ơn gọi của Chúa Kitô - và cũng trong nhân cách của ngài theo b́nh diện tâm lư - cần phải có sự cởi mở hoàn toàn, sự lệ thuộc, sự tước đoạt ḿnh, sự chối từ ḿnh như thế. “Nói không với chính ḿnh, đó là thinh lặng đích thực làm cho toàn thể con người dịu lại, cho tới tận nơi sâu thẳm của linh hồn đang chăm chú hướng về một ḿnh Thiên Chúa mà thôi” [4].
V́ thế Chúa Kitô hoàn toàn trong suốt trước sự hiện diện, trước giáo thuyết và hành động của một Đấng Khác. Sự trong suốt thinh lặng này xác nhận tính chân thực nơi chứng từ của ngài. Chúa Giêsu hoàn toàn thuận hợp với Lời của một Đấng Khác: “Đạo lư tôi dậy không phải là của tôi, nhưng là của Đấng đă sai tôi… Ai tự ḿnh mà giảng dậy, th́ t́m vinh quang cho chính ḿnh, c̣n ai t́m vinh quang cho Đấng đă sai ḿnh th́ là người chân thật…” (Ga 7, 16-18). “Tôi không tự ḿnh mà nói, nhưng Chúa Cha, Đấng đă sai tôi, truyền cho tôi phải nói ǵ và tuyên bố ǵ… Vậy những ǵ tôi nói th́ tôi nói đúng như Chúa Cha đă nói với tôi” (Ga 12, 49-50).
Cũng vậy, khi hành động, Chúa Giêsu không làm công việc riêng của ngài, hay làm theo ư ngài. “Chúa Con không thể làm điều ǵ mà không phải là điều ngài thấy Chúa Cha làm: điều ǵ Chúa Cha làm, Chúa Con cũng làm như vậy” (Ga 5, 19). Tôi không tự ḿnh làm bất cứ điều ǵ… Tôi luôn luôn làm điều Người ưa thích” (Ga 8, 28-29). Khi giữ thinh lặng bằng trọn cả bản thân ḿnh, Chúa Giêsu không ham muốn giữ lại bất cứ điều ǵ cho ḿnh, ngài qui hướng tất cả, lời nói và hành động, về cùng đích của ngài là Chúa Cha: “Lạy Cha, con đă hoàn tất công việc Cha trao cho con, … Họ thuộc về Cha… Con đi đến với Cha…” (Ga 17, 2-11). Ngài tự hiến ḿnh làm của lễ toàn thiêu dâng lên Chúa Cha, ngài “tự thiêu” và tiêu hao trọn cuộc đời v́ Chúa Cha. Và thập giá chính là sự hoàn tất chung cuộc của lễ toàn thiêu này.
Thinh lặng-bỏ ḿnh đó là điều cốt yếu tới độ Chúa Giêsu không muốn thực hiện một ḿnh. Bằng khoa sư phạm trong Phúc Âm, ngài muốn ghi khắc nó vào tâm trí chúng ta. Biết được con người là ǵ, ngài từ từ chuẩn bị các môn đệ của ngài đón nhận sự mất mát lớn lao mà cái chết của ngài và mầu nhiệm của tối tăm sẽ đề nghị với con người vốn đă cho ḿnh là đầy đủ mọi sự. Ngài dậy các môn đệ đừng mù quáng tin tưởng nơi ḿnh, nơi những t́nh cảm và xung động của ḿnh. Ngài truyền thông sự thinh lặng của ngài vào ḷng các môn đệ.
Và để làm thế, ngài cho họ thấy tính mỏng manh của ḷng con người: “Con sẽ liều mạng v́ thầy ư? …Quả thực, gà chưa gáy con đă chối thầy ba lần rồi!” (Ga 13, 38). “Bây giờ các con tin à? … Này đến giờ … các con sẽ bỏ thầy một ḿnh!” (Ga 16, 31-32).
Ngài cho các ông thấy sự ḍn mỏng thiêng liêng của cả cộng đoàn khi nói nó sẽ bị mầu nhiệm của tối tăm hành hạ: “Các con không sạch cả đâu…” (Ga 13, 10-11); “Một trong các con là quỉ!” (Ga 6, 70); “Thầy không nói về tất cả các con đâu…Kẻ ăn bánh của Ta lại giơ gót đạp Ta” (Ga 13,18). “Các con sẽ bị phân tán…” (Ga 16, 31).
Ngài cũng dậy các ông về sự ḍn mỏng trong các tương quan giữa con người, kể cả những tương quan xem ra thiêng liêng nhất: khi ngài loan báo rằng sẽ chỉ c̣n ở với các ông ít lâu nữa thôi, sẽ không chuyện tṛ với các ông nữa, chẳng bao lâu thế gian sẽ không thấy ngài nữa, ngài sẽ từ bỏ thế gian, v.v. (Ga 13-17). Ngài cũng để lộ cho các ông thấy tính dễ bị tổn thương của ngài phần nào như bước khởi đầu đi vào mầu nhiệm của bóng tối: “Giờ đây tâm hồn Thầy xao xuyến. Biết nói ǵ? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này…” (…)
7. Thinh lặng-tin tưởng. Nhưng cùng lúc với mầu nhiệm tự hủy, Chúa Giêsu dẫn đưa các môn đệ vào mầu nhiệm về sự tin tưởng của ngài nơi Chúa Cha. Ngài củng cố đức tin và niềm trông cậy của các ông. Ngài không muốn các ông xao xuyến. Ngài trấn an các ông và yêu cầu các ông tựa nương vào Thiên Chúa, bám chặt lấy Thiên Chúa, ở lại trong Thiên Chúa, khi lănh nhận đấng An Ủi, đấng Bảo trợ, đấng Cố Vấn mà ngài sẽ gửỉ tới từ nơi Chúa Cha. Như thế, ngài dậy các ông đón nhận hành động của Chúa Cha, để Chúa Cha làm việc, nhào nặn, uốn nắn các ông, như thánh Irênê nói [5]. Mối tương quan sống động với Chúa Cha bằng sự tin tưởng dịu dàng, ngoan ngoăn, phó thác, dễ dậy nói lên cách sâu xa hữu thể làm con của Chúa Giêsu. Sự tin tưởng đó là cội rễ mọi hành động của ngài. Trong tư cách là Con, Chúa Giêsu hoàn toàn phó thác ḿnh trong tay Chúa Cha. Chính niềm xác tín tuyệt đối vào t́nh thương của Chúa Cha đă giúp Chúa Giêsu bày tỏ sự từ bỏ ḿnh hoàn toàn, ngay cả khi xem ra Chúa Cha ruồng bỏ ngài. Chúng ta khám phá ra rằng sự thinh lặng ấy của Chúa Giêsu vừa là đỉnh cao của “tuổi thơ ấu thiêng liêng” vừa là sự trưởng thành hoàn hảo của con người. ĐC. Bloom nói rằng tuổi thơ ấu thiêng liêng không là khởi điểm con đường thiêng liêng nhưng là đích điểm. Ngài thêm: “Tôi nghĩ khi Chúa Giêsu nói với chúng ta ‘Hăy nên như trẻ thơ’ ngài đ̣i hỏi một điều chúng ta không thể làm được. Trước hết phải đạt tới sự trưởng thành nhân bản trọn vẹn rồi mới có thể từ bỏ ḿnh và đạt tới sự đơn sơ mà tôi nghĩ không ai trong chúng ta đây có khả năng đạt tới được” [6].
Tại vườn cây dầu hay trong cuộc thụ nạn, Chúa Giêsu đứng trước thử thách lớn lao là sự thinh lặng của Thiên Chúa. Ngài hoàn toàn tin tưởng trong lúc mà, theo thánh Macaire, “Thiên Chúa tránh mặt ngài như nước rút khỏi băi biển”. Có thinh lặng nào lạ lùng cho bằng thinh lặng của Chúa Giêsu trước những kẻ xét xử ngài! “Lúc ấy vị Thượng tế đứng lên hỏi ngài: ‘Ông không đáp lại ǵ ư?’ Nhưng Chúa Giêsu thinh lặng” (Mt 26, 62-63). Chúa Giêsu không tự bào chữa. Ngài phó thác cho Chúa Cha. Thiên Chúa sẽ bênh vực ngài (Mt 26, 53-54). “Quan Philatô hỏi: ‘Ông không nghe họ tố cáo ông sao?’ Ngài không đáp lại lời nào, khiến quan tổng trấn rất ngạc nhiên” (Mt 27, 13-14; x. Mc 14, 60). Chúa Giêsu thực hiện điều ngài đă dậy: “Các con hăy ghi ḷng tạc dạ điều này là các con đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào, v́ chính Thầy sẽ cho các con ăn nói thật khôn ngoan, khiến địch thù của các con không thể nào chống chọi hay căi lại được” (Lc 21, 14-15). Với ngài lúc này, ăn nói thật khôn ngoan chính là thinh lặng. Thinh lặng gây ngạc nhiên và là một chứng từ. Chúa Giêsu thể hiện điều mà thánh Biển Đức gọi là bậc khiêm nhường thứ bốn. Kiên cường trong t́nh yêu của Chúa Cha, ngài đứng vững không hề lay chuyển và âm thầm nhẫn nại trước những bất công, những lời cáo gian, những ngược đăi. Khi ấy ngài sống nơi bản thân ḿnh lời thánh vịnh: “Con thinh lặng chẳng hé môi, v́ chính Chúa đă hành động…” (Tv 38, 10). “Con như kẻ điếc chẳng nghe ǵ, như người câm không mở miệng, như người chẳng nghe chi hết, không một lời đối đáp ngoài môi, v́ lạy Chúa, chính ngài là đấng con tin cậy. Lạy Thiên Chúa của con, chính Chúa sẽ đáp lời” (Tv 37, 14-16). Ngài giữ vững niềm tin tưởng nơi Chúa Cha, mặc dầu sự thinh lặng của Cha trở nên nặng nề hơn, tới độ đă để cho ngài bị chơ vơ đơn độc mà chết trên thập giá và bị mai táng trong mồ. Pseudo-Épiphane nói: “Hôm nay, thinh lặng bao trùm mặt đất, thinh lặng và cô tịch. V́ Đức Vua đang ngủ. Trái đất run dùng rồi lặng yên v́ Thiên Chúa đă thiếp ngủ trong thể xác và ngài đi đánh thức những kẻ đă ngủ từ ngàn xưa” [7]. Nếu Chúa Kitô đă chấp nhận cái cô tịch toàn diện, cái vẻ thất bại hoàn toàn chính bởi v́ một sự thinh lặng như thế là cần thiết để Thiên Chúa có thể tái tạo “mọi sự nên mới”, cải tân loài người tận gốc rễ.
Cha Urs von Balthasar có lư khi nghĩ có thể liên kết sự thinh lặng đan tu với sự hoàn tất việc “Ngôi Lời trở nên xác phàm”, với việc Ngôi Lời ch́m sâu vào cuộc đời thinh lặng, với thái độ của con chiên bị dẫn đi làm thịt mà “không hề mở miệng kêu than” [8].
8. Thinh lặng-phong phú. Bằng sự thinh lặng của ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, Thiên Chúa đă chôn vùi Lời Ngài xuống chỗ sâu thẳm nhất của tạo thành. Khi mở ra một không gian nội tâm trong nhân loại bằng cuộc khổ nạn và thập giá của ḿnh, Chúa Kitô đă trao phó nơi Chúa Cha trọn vẹn công tŕnh tác sinh. Vào ngày lễ Vượt Qua và ngày lễ Ngũ Tuần, Lời được trả lại cho chúng ta, trong suốt và mang sức mạnh truyền thông phi thường. Ngày lễ Ngũ Tuần, Chúa Cha nói! Ngài làm cho Lời đă trở nên xác phàm thành phong phú, làm cho thập giá phải im lặng. Ngài làm cho Lời ấy hóa ra nhiều (phép lạ ngôn ngữ) và mọi người đều hiểu được. Và nhờ đức tin, ngài đặt Ngôi Lời của ngài vào ḷng mỗi người, để Ngôi Lời nói trong chúng ta và hoàn tất trong chúng ta công tŕnh của ngài. “Chúng ta trở nên một hữu thể với Ngôi Lời” (Rm 6,5). Chúng ta được tái tạo trong Ngôi Lời: “Ai ở trong Chúa Kitô, người ấy là một tạo vật mới; con người cũ đă qua đi, bây giờ là con người mới” (2 Cr 5, 17; x. Gl 6, 15). Và từ nay tâm ḷng người tín hữu trở nên đền thờ Thiên Chúa, cung điện của Chúa Kitô [9]. Guardini đă nói: “Khi Chúa Giêsu lên trời, Thánh Thần mở ra trong con người một không gian nội tâm, nơi đó Đức Chúa đă được biến đổi có thể đi vào. Giờ đây ngài ở trong chúng ta, và chúng ta ở trong ngài nhờ Thánh Thần” [10].
Hiệu quả chính phát sinh từ đó là sự thinh lặng của kitô hữu không được và không thể chỉ là bắt chước từ bên ngoài sự thinh lặng của Chúa Kitô, nhưng từ nay nó liên kết với Đấng đang sống và nói trong chúng ta. “Phúc thay linh hồn tự hủy chính ḿnh, hoàn toàn qui hướng về Thiên Chúa, không sống nơi ḿnh nhưng sống trong Chúa Kitô, được thấm nhuồn trọn vẹn bằng t́nh yêu của ngài” [11]. Và Tauler nói: “Chẳng bao giờ con người nghĩ rằng ḿnh sẽ trở nên hoàn thiện nếu con người bên ngoài không mất hút đi trong con người nội tâm” [12]. Thinh lặng của chúng ta là để cho một Đấng Khác với ḿnh cư ngụ nơi ḿnh, nhường hết chỗ cho ngài và không cậy dựa vào cái cũ kỹ trong ta đă được mời gọi tan biến đi. Lúc này chúng ta phải mặc lấy con người mới (Cl 3, 10) và để chúng ta được đổi mới nhờ bản thân Chúa Kitô đă được đặt để trong ḷng chúng ta, phải quan tâm đến ngài như tới điều cần duy nhất và để ngài lên tiếng nói trong bản thân chúng ta, hy sinh v́ ngài mọi giao động vô ích. Paul Evdokimov nhấn mạnh điều này: “V́ Thiên Chúa làm mới lại mọi sự, nên phải có đoạt tuyệt, con người bên ngoài nơi ta phải bị tiêu hủy đi và con người nội tâm phải được đổi mới. Từ đó, sự sống thiêng liêng qui hướng rất chính xác về sự biến đổi này: mặc lấy con người mới (…). Các thánh Giáo phụ dậy rằng không phải ta bắt chước nhưng ta nội tâm hóa Chúa Kitô. Như thế ta hiểu được sự sống thiêng liêng gây nên một sự đoạn tuyệt tức khắc như thế nào” [13].
Sau khi t́m hiểu vắn tắt như thế, hẳn chúng ta đă thấy rơ hơn sự thinh lặng của Chúa Giêsu bao gồm những chiều kích rộng lớn hơn là chỉ giữ ǵn môi miệng: a) nếu Chúa Giêsu sống ẩn dật lâu dài, trốn tránh những lời ca tụng và yêu thích nơi thanh vắng chính là để đáp ứng tốt hơn những yêu sách của mối thân t́nh giữa ngài với Chúa Cha; b) sâu xa hơn nữa, sự thinh lặng của ngài cho thấy điểm trung tâm trong mầu nhiệm của ngài, đó là từ bỏ ư riêng của con người trước Thiên Chúa và tin tưởng tuyệt đối vào t́nh yêu của Chúa Cha; c) chính v́ đă chiến thắng thử thách khi kiên tŕ trong niềm tin tưởng ấy mà Chúa Giêsu trở nên hiện diện đối với mỗi người chúng ta, một sự hiện diện tuôn trào cách mầu nhiệm từ nơi sâu thẳm nhất của chúng ta, nhờ quyền năng tác sinh của Chúa Cha. Chúa Kitô tiếp tục thinh lặng trong chúng ta. Ngài mời gọi chúng ta cùng thinh lặng với ngài trong nơi sâu thẳm đó, nơi mà ngài nói với chúng ta bằng tiếng nói nhỏ nhẹ của Thánh Thần.
Chính đây là lúc để nhắc tới thinh lặng trong đời sống đan tu.
II. THINH LẶNG ĐAN TU
Toàn thể truyền thống đan tu được thấm nhuồn xác tín phúc âm rằng nước Thiên Chúa, theo điều cốt yếu, đă ở giữa chúng ta. “Nước Thiên Chúa ở trong anh em” (Lc 17, 21). Nếu nhờ bí tích thánh tẩy, chúng ta chỉ c̣n là một với Chúa Kitô, th́ mỗi người chúng tra đă trở nên “người mang Lời sự sống”, như thư Philiphê nói (Pl 2, 16). Từ đó chúng ta hiểu tại sao truyền thống đan tu nhấn mạnh nhiều đến tầm quan trọng của trái tim. Thực vậy, trái tim là nơi Lời tác sinh của Ngôi Lời cư ngụ và ở nơi đó chúng ta có thể cùng thinh lặng với ngài mọi lúc, bằng cái nh́n tin yêu. Theo Isaac de Ninive, “trái tim là cơ quan trung tâm của các giác quan nội tâm, là giác quan của các giác quan v́ nó là cội rễ. Nếu cội rễ là thánh, tất cả mọi cành cũng thánh” [14]. Trong một lá thư Pseudo-Chrysostome gửi các đan sĩ, ta đọc thấy: “Bạn là một đền thờ, đừng t́m nơi nào khác” [15]. Với Cassien, “tất cả đều nằm trong cung thánh sâu thẳm của linh hồn” [16] và với thánh Maximô “khi hiện diện trong trái tim, Thiên Chúa thấy rằng cùng với Thánh Thần ghi khắc vào đó sứ điệp của ngài như ghi trên các phiến đá của Môsê là điều tốt” [17]. Tất cả các tác giả lớn về đời sống thiêng liêng sau đó đều liên tục nhắc lại chân lư cốt yếu này. Thánh Gioan Thánh giá và truyền thống cát minh cho rằng “trung tâm của linh hồn chính là Thiên Chúa. Thực vậy, chính trong bản thể của linh hồn, nơi giác quan và ma quỉ không thể xâm nhập được, mà Thánh Thần cử hành lễ t́nh yêu” [18].
Do đó, khổ hạnh đan tu không phải là một nỗ lực giả tạo để làm ra một bầu khí thiêng liêng, nhưng chỉ là hiện diện trước đấng hiện diện trước mặt ta, là chấp nhận những đ̣i hỏi của t́nh yêu ngài và cộng tác với ngài để tái tạo con người nội tâm của ta. Nhưng chúng ta biết đó, việc cộng tác này không luôn luôn dễ dàng. V́, nếu nó nhằm giúp chúng ta ḥa hợp trọn vẹn với Thực Tại sâu xa cư ngụ trong chúng ta, nó cũng mời gọi chúng ta loại bỏ tất cả những ǵ không am hợp với Thực Tại ấy trong cách sống của ta và chống lại với khuynh hướng tự nhiên hay quên, với tính đăng trí và sự phân tâm. Pseudo-Macaire, thánh Gioan Climaque và thánh Grêgôriô Palamas nhắc lại rằng “Từ khi lỗi phạm luật Chúa, con người nội tâm thích ứng cách tự nhiên với những h́nh thức bên ngoài” [19]. Từ khi phạm tội nguyên thủy, con người “bị phân tán”, không c̣n sự hiệp nhất trong nội tâm nữa bao lâu Chúa Kitô chưa tái tạo sự hiệp nhất ấy trong họ, nhờ việc họ dự phần vào cuộc khổ nạn và thập giá của ngài. Đan sĩ hướng tới sự hiệp nhất ấy, đă chớm nở trong họ, nhờ có Chúa Kitô hiện diện nơi đáy ḷng họ. Thầy Eckhart nói: “Trong mọi sự, con người phải được đào tạo từ nội tâm trong Chúa Giêsu Kitô, tới độ người ta có thể thấy phản ánh nơi họ mọi công việc cũng như h́nh ảnh thần linh của ngài, và con người phải thực hiện nơi bản thân, theo khả năng có thể, mọi công việc của Chúa Kitô, giống hệt như ngài thực hiện. … Chớ chi trái tim bạn làm quen với những công việc ấy trong mọi lúc để bạn có thể ḥa nhập vào ngài trong mọi việc bạn làm” [20]. Điều này đ̣i phải chấp nhận một cuộc chiến đấu thiêng liêng cực kỳ cam go. Thánh Simêon Nhà Thần Học Mới dậy: “Nước trời đ̣i phải dùng sức mạnh và những ai mạnh mẽ mới chiếm được, v́ chúng ta phải trải qua nhiều gian truân để vào được nước trời. Mà nước trời là dự phần vào Thánh Linh, đó là ư nghĩa của câu nói rằng nước trời ở trong chúng ta, giống như là chúng ta nhiệt t́nh đón nhận và giữ lấy Thánh Linh ở trong ta” [21]. Nếu, như mọi kitô hữu, đan sĩ ở trong một cuộc tranh chấp đ̣i buộc họ phải liên tục “cởi bỏ con người cũ với những hành vi của nó” (Cl 3, 9), “con người cũ hư hỏng v́ dục vọng” (Ep 4, 22) và “mặc lấy con người mới được tạo dựng theo h́nh ảnh Thiên Chúa trong công b́nh và thánh thiện chân thực” (Ep 4, 24; x. Cl 3, 10); 2 Cr 4, 16; Ep 3, 14-19), họ sẽ chiến đấu trong khi đặc biệt quan tâm để không ngừng đặt hoạt động bên ngoài dưới ánh rạng ngời của vị Khách nội tâm. Như Tauler nói trong bản văn đă trưng dẫn: “Không bao giờ con người nghĩ ḿnh sẽ trở nên hoàn thiện nếu con người bên ngoài không được hoà nhập vào con người bên trong”. Vả lại đan sĩ sống một cuộc sống thuận lợi cho việc hoà nhập đó và cho hoạt động âm thầm của ân sủng. Những đoạn tuyệt mà cuộc sống này đ̣i hỏi sẽ đều qui hướng về việc giúp con người nội tâm triển nở trọn đầy để phục vụ Giáo hội.
Sau những điều tŕnh bày trên đây, ta có thể đề cập tới một số điểm của tu luật thánh Biển Đức. Việc để chương nói về thinh lặng ở giữa chương về vâng phục và chương về khiêm nhường đă nêu bật mối liên kết chặt chẽ (như nói trên đây về thinh lặng của Chúa Kitô) giữa thinh lặng và vâng phục, thinh lặng và khiêm tốn, tự hủy, bỏ ḿnh. Mối giây liên kết này c̣n chặt chẽ hơn nữa trong chương về khiêm nhường. Chương này khai triển cả một khoa sư phạm về thinh lặng khi đưa chúng ta đi vào trung tâm sự thinh lặng của Chúa Kitô. Đại khái chúng ta có thể phân thành ba giai đoạn tương ứng với - bậc khiêm nhường thứ nhất, - rồi bậc thứ tư và thứ năm, - rồi bậc thứ chín, mười, mười một và mười hai.
1. Ta có thể gọi giai đoạn thứ nhất là “cuộc sống chăm chú”. Nếu trong suốt cả chương 7 ta thấy hành động vô cùng nhẫn nại của Thiên Chúa càng ngày càng động viên đan sĩ có thái độ tin tưởng phó thác nơi t́nh thương của Chúa Cha, th́ điều đó mới chỉ khởi đầu ở bậc khiêm nhường thứ nhất. Sự liên tục tưởng nhớ Chúa hiện diện cho thấy đă có thinh lặng cách nào đó không những ngoài môi miệng, mà cả trong tư tưởng, cảm t́nh và nơi mọi sinh hoạt của đan sĩ. Dường như toàn thể con người đan sĩ đều được xem xét lại, từ đầu tới chân. Đặt ḿnh trước cái nh́n của Chúa, đan sĩ thấy ḿnh được Chúa nh́n thấu suốt toàn diện con người ḿnh tới độ họ dần dần ư thức được ḿnh sống trong tương quan nhiệm mầu với Chúa và ngài thấu nhập vào họ từ khắp nơi. Họ cảm nhận rằng cái nh́n của Chúa đang ḍ thấu tâm hồn họ là cái nh́n sáng tạo và làm nảy sinh ra nơi họ điều tốt nhất của họ, đó là sự thật sâu xa nhất về họ. V́ thế họ cố gắng sống tinh thần chăm chú bao nhiêu có thể. Người ta đă định nghĩa đời sống đan tu là “cuộc đời chăm chú”. Định nghĩa này diễn tả điều chính xác nhất trong thành ngữ “đời sống chiêm niệm” hay “đời sống thiên thần”. Thực vậy, nếu nh́n gần, ta sẽ không khỏi ngạc nhiên thấy ở bậc khiêm nhường thứ nhất chồng chất những hạn từ như “canh chừng” (cavere), “giữ ǵn” (custodire), “trốn tránh quên lăng” (oblivionem omnino fugere) và những từ nhỏ về nơi chốn hay thời gian như “không ngừng”, “khắp nơi”, “mọi giờ phút”, “liên tục”, “ở mọi nơi”. “mọi lúc”, tất cả đều nói lên rằng đan sĩ quyết liệt tránh mọi phân tâm chia trí, dù là do tư tưởng, con mắt, trái tim, tay chân hay ǵ khác… Thánh Biển Đức không có đủ từ để diễn tả việc đan sĩ trầm ḿnh vào trong ánh sáng của Thiên Chúa mà họ đă khám phá ra được nơi trung tâm của ḷng ḿnh. Một sự thinh lặng thần linh bao trùm toàn thân và mọi sinh hoạt của đan sĩ nhằm làm dịu lại tất cả những ǵ là vội vàng hấp tấp khiến ta không nhận ra Thiên Chúa hiện diện. Don Augustin Baker nói trong tác phẩm “Sự khôn ngoan thánh”: “Hăy để ư đừng làm bất cứ việc ǵ mà ḷng bồn chồn vội vă, nhưng làm cách b́nh thản lặng lẽ. Những động tác hung hăng dữ dội không đến từ Thần Khí Chúa, ngài là sự an b́nh, thanh thản, yên tịnh tuyệt đối. Vội vàng là cản trở lớn cho việc suy niệm, một việc đ̣i phải có sự b́nh an và êm đềm rất lớn trong tâm hồn” [22]. Như vậy cuộc sống trước sự hiện diện của Chúa giống như là một cật vấn đối với sự náo động và những vội vàng hấp tấp của chúng ta: “Bạn có cần phải vội vă lao ḿnh vào công việc đó không? Phải chăng đó là điều cần duy nhất?”
Như vậy đan sĩ giữ ḿnh trong tư thế “tự cảnh giác”. Khi đă nhận ra được điều cần duy nhất, tức là nơi chốn của Thiên Chúa, đan sĩ cố gắng đi sâu măi vào đó, như chân phước Élisabeth de la Trinité nói: “Hăy tiến măi vào vực thẳm này… Không được ngừng ở bề mặt, phải đi sâu măi vào hữu thể thần linh bằng tĩnh niệm. Thánh Phaolô thốt lên: ‘Tôi chạy đua’. Cũng thế, mỗi ngày chúng ta phải đi sâu xuống vực thẳm là Thiên Chúa. Hăy lướt đi trên con dốc đó trong niềm tin tưởng tràn đầy mến yêu. Vực thẳm kêu mời vực thẳm. Khi đó sẽ xẩy ra cú sốc thần linh, khi đó vực thẳm hư vô của chúng ta, vực thẳm khốn cùng của chúng ta sẽ gặp vực thẳm của ḷng thương xót, của sự bao la, của Tất Cả nơi Thiên Chúa. Chính khi ấy chúng ta t́m được sức mạnh để chết đi cho chính ḿnh và khi mất đi dấu vết của ḿnh, chúng ta sẽ được biến đổi nên t́nh yêu” [23].
Để hỗ trợ sự chăm chú nội tâm này, các vị thầy về đời sống thiêng liêng, bên Đông phương cũng như bên Tây phương, khuyên nên dùng một số phương tiện mà các ngài biết là có hiệu quả:
a. Lặp đi lặp lại một lời nguyện ngắn hay một tiếng có sức nhắc nhở chúng ta về Đấng đang hiện diện trong nội tâm chúng ta. Có thể là lời kinh Chúa Giêsu: “Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”, hay một câu Thánh vịnh như Cassien nói tới trong bài thuyết tŕnh thứ mười của ông: “Lạy Chúa Trời, xin tới giúp con”, một câu đáp ca trong phụng vụ, một lời “nguyện tắt” hoặc những tiếng ngắn ngủi như “Lạy Chúa Giêsu”, “Lạy Cha”, … Những lời kinh chăm chú lặp đi lặp lại như thế sẽ giúp ta đi vào nội tâm. Thánh Biển Đức cũng biết tới điều đó khi nói: “để tỉnh thức,… đan sĩ luôn luôn lặp đi lặp lại trong ḷng: ‘tôi sẽ trong sạch trước mặt ngài, nếu tôi giữ ḿnh khỏi phạm tội’” (TL 7, 50). Silouane nhắn nhủ : “Nếu bạn muốn cầu nguyện bằng trái tim mà bạn không làm được, th́ hăy lặp lại trên môi những lời kinh bạn đọc, và chăm chú vào những lời bạn đọc đó… Sớm hay muộn, Chúa sẽ ban cho bạn cầu nguyện được trong nội tâm mà không chia trí. … Bạn sẽ có thể cầu nguyện dễ dàng” [24]. Thực vậy, như Évagre nói, “chăm chú đi t́m cầu nguyện sẽ gặp được cầu nguyện, v́ sau khi chăm chú sẽ cầu nguyện được. Vậy hăy cố gắng thực tập” [25].
b. Trong khi làm việc, thỉnh thoảng ngưng lại một chút để giảm bớt vội vàng và nghĩ đến Chúa hiện diện trong ta mà thờ lạy và kết hiệp với ngài. Về điểm này, chân phước Laurent Phục Sinh khuyên “ngừng lại một chút, và nhiều lần bao nhiêu có thể, để thờ lạy Chúa trong thâm cung linh hồn, nếm hưởng ngài, dù chỉ là thoáng qua và như thể lén lút vậy” [26]. Nhờ những giây phút ngắn ngủi năng lặp lại đó, linh hồn được kiên định trong thinh lặng trước tôn nhan Chúa.
c. Sự quan trọng của bầu khí thinh lặng. Tất cả những ai đă nếm hưởng được t́nh thân mật với Chúa đều yêu quí sự thanh vắng. Họ giữ ǵn thinh lặng bên ngoài và trân trọng những khoản luật qui định duy tŕ thinh lặng trong cộng đoàn. V́, như Philoxène de Mabboug nói, “thinh lặng bên ngoài dẫn tới thinh lặng thiêng liêng, và thinh lặng thiêng liêng nâng con người lên để sống trong Chúa; nhưng nếu bỏ mất thinh lặng, con người sẽ không c̣n giao tiếp với Chúa nữa… Với ai đă có kinh nghiệm về Chúa Kitô, thinh lặng quí hơn mọi sự” [27]. Như vậy, đối với những ai sống đời sống thiêng liêng, t́m kiếm thinh lặng không phải là một quan tâm theo h́nh thức, nhưng là ḷng nhiệt thành hăng say. V́ thế mọi cuộc cải cách đan tu đều luôn luôn được cảm hứng từ ḷng nhiệt thành ấy. Chẳng hạn với thánh Bênađô: “Thinh lặng bảo vệ đời tu. Thinh lặng là sức mạnh của đời tu” [28], với Rodolphe de S. Trond: “Không có thinh lặng, đan sĩ không thể giữ kỷ cương luật lệ ǵ được” [29], hay với thánh Brunô: “Thanh vắng và thinh lặng mang lại ích lợi và dịu ngọt ra sao cho những ai yêu thích chúng, th́ chỉ những người ấy mới biết được v́ họ đă có kinh nghiệm. Nhờ thanh vắng và thinh lặng, những con người mạnh mẽ có thể tĩnh niệm bao lâu họ muốn… Nhờ thanh vắng và thinh lặng, mà có được cái nh́n b́nh thản làm cho Đức T́nh Quân chí thánh phải đau khổ v́ yêu và đó là t́nh yêu hết sức tinh tuyền nhờ t́nh yêu ấy người ta chiêm ngắm Thiên Chúa” [30], và gần chúng ta hơn, với chân phước Charles de Foucauld: “Ai không sống trong sa mạc sẽ khó mà hiểu được thời gian dừng lại một năm trong thinh lặng, xa thế giới văn minh, có thể giúp con người tự thoát khỏi ḿnh và chỉ lo t́m kiếm điều cần duy nhất mà thôi. (…) Sa mạc cho ta hiểu thế nào là chiêm niệm… Sa mạc làm cho linh hồn tập trung vào chính ḿnh, và từ đó tập trung vào Thiên Chúa” [31]. Càng dễ bị tổn thương v́ những ǵ trái ngược với thinh lặng, ta càng thấy cần thinh lặng hơn, như Cha Jacques Loew cho thấy: “Đời sống thiêng liêng rất đ̣i hỏi đối với những ai đă khấn hứa sống trong đời sống ấy. (…) Nhà giải phẫu muốn mổ xẻ chính xác th́ không được có những thao tác mạnh … và con người ṃ mẫm đi vào cơi vô h́nh phải giữ ǵn con mắt: phim ảnh và suy niệm, truyền h́nh và tôn thờ không thể cùng cư ngụ nơi một con người, chẳng khác ǵ những tṛ xiếc xưa kia. Phải công nhận rằng chúng ta dễ bị tổn thương hơn những người sống trong bậc hôn nhân” [32]. Từ đó chúng ta hiểu rơ hơn trách nhiệm của ḿnh trong việc duy tŕ bầu khí thinh lặng của cộng đoàn, tới độ có thể nói rằng sức sống của một đan viện, phẩm chất của lời cầu nguyện và việc đón tiếp khách tùy thuộc phẩm chất thinh lặng của đan viện ấy. Và nếu “việc hiến tế cái lưỡi cùng với Chúa Kitô” [33] là một hy sinh thực sự, nó càng là biểu hiện rơ ràng hơn của một đức ái huynh đệ cao vời. Trước hết là bác ái huynh đệ đối với cộng đoàn, v́, như Thomas Merton nói, “Khi các cửa sổ đan viện không c̣n mở về phía chân trời sa mạc nữa, cộng đoàn đan viện sẽ không thể tránh khỏi bị ch́m nghỉm trong cái hăo huyền. Tất cả những ǵ là vô nghĩa và phụ thuộc sẽ có tầm quan trọng lớn, sẽ trở nên cùng đích của đời sống đan tu” [34]. Cũng là bác ái đối với Giáo hội nữa mà, như Urs von Balthasar mới nhắc lại, t́nh trạng thường xuyên trong sa mạc “được biểu thị trước mắt mọi người bằng sự hiện hữu lâu dài và bền vững của đan viện” [35].
d. Canh giữ tu pḥng. Các Linh Phụ xác tín rằng chính Thiên Chúa, ông chủ của thinh lặng, khiến các ngài nghĩ rằng tu pḥng sẽ dậy ta mọi sự [36]. Các ngài tin tưởng rằng nơi tu pḥng, Thiên Chúa vô cùng nhẫn nại sẽ ch́ến thắng mọi cản trở: “Hăy tránh mọi người, hăy ngồi yên trong tu pḥng của con, hăy khóc lóc v́ tội lỗi con, đừng ham nói nhiều, rồi con sẽ được cứu độ” [37]; “Cá nằm lâu trên mặt đất sẽ chết. Cũng vậy, đan sĩ la cà bên ngoài tu pḥng…sẽ mất năng lực cần thiết để sống b́nh an. Vậy, cá phải lập tức trở xuống biển, chúng ta phải mau lẹ trở về tu pḥng. Lang bang bên ngoài, chúng ta sẽ quên mất việc giữ ǵn nội tâm” [38]. Vai tṛ của vị cao niên cơ bản là nhắc nhở đan sĩ trẻ về khoa sư phạm thánh thiêng này. “Một đan sĩ hỏi viện phụ Arsène: Thưa cha, con phải làm sao đây, v́ con bị quấy nhiễu bởi tư tưởng này: ‘V́ mày không thể ăn chay, cũng không làm việc được, vậy ít là hăy đi thăm bệnh nhân! Mày sẽ đáng thưởng đấy’. Vị cao niên biết đó là những tư tưởng của ma quỉ, ngài trả lời: ‘Con hăy đi ăn uống rồi ngủ đi; nhưng chớ ra khỏi tu pḥng’” [39]. Tu pḥng thinh lặng là nơi Thiên Chúa tỏ ḿnh ra cho đan sĩ: “Tu pḥng của đan sĩ là ḷ lửa Babilon nơi ba thiếu niên gặp được Con Thiên Chúa. Nó c̣n là cột mây nơi Thiên Chúa nói với Môsê” [40].
2. Giai đoạn hai của thinh lặng đan tu tương ứng với bậc khiêm nhường thứ tư và thứ năm. Đó là thời gian thanh tẩy, trong thời gian này, Chúa Cha đào tạo đứa con của ngài về thinh lặng-từ bỏ ḿnh và về thinh lặng-tin tưởng; do đó ta thấy được tầm quan trọng của vị niên trưởng mang danh hiệu của ngài (danh hiệu viện phụ) và vai tṛ của vị ấy là phân định những bước vượt qua mà Chúa Cha muốn để giúp môn đệ thực hiện.
Ở bậc khiêm nhường thứ tư, thánh Biển Đức khích lệ đan sĩ, trước những thử thách đủ loại, “trước hết hăy nhẫn nại mà lặng lẽ vâng phục cho dù lệnh truyền có khó thực hiện và trái ư ḿnh tới đâu, hay có phải chịu mọi thứ xỉ nhục đi nữa”. Nghĩa là thế nào? Thiên Chúa muốn nhào nặn con người nội tâm nơi ta và đưa ta đi sâu hơn vào sự thinh lặng con thảo của Chúa Kitô. Điều đó đ̣i phải có những vượt qua chính ḿnh và những từ bỏ. Như chúng ta biết, không phải Chúa Cha đ̣i chúng ta phải chịu những thử thách độc đoán. Chúa Cha đă không ngược đăi Chúa Kitô bằng cách bắt buộc ngài phải giữ thinh lặng-từ bỏ. Chúa Giêsu đă nói: “Không ai lấy được mạng sống tôi, mà tôi tự trao hiến nó” (Ga 10, 18). Nhưng khoa sư phạm của Thiên Chúa nhằm tạo nên trong ta, qua việc tự hủy, phương diện cốt yếu khác của thinh lặng nơi Chúa Kitô: thinh lặng-tin tưởng vào t́nh yêu Thiên Chúa (dù những vượt qua cần thiết có đau đớn thế nào đi nữa). Và lúc này vị cao niên phải can thiệp. Trong khi cố gắng hành xử giống Chúa Cha chừng nào có thể, nhiệm vụ của cha thiêng liêng là giúp người con thiêng liêng nhận ra thời giờ của Thiên Chúa và cùng với họ phân định xem hiện tại Chúa mời gọi họ làm ǵ, vác thập giá nào và vượt qua khỏi ḿnh ở điểm nào. Đó là một việc sáng tạo chứ không phải hủy diệt. Ngày nay người ta có khuynh hướng cho rằng vâng phục ḱm hăm sự triển nở của nhân vị. Nhưng vâng phục là vâng phục Chúa Cha th́ ngược lại đó không phải là dịp may duy nhất giúp ta vượt khỏi ḿnh và đạt tới ân sủng làm triển nở mạnh mẽ nhất, ân sủng mà Chúa Kitô nói tới: “Không có t́nh yêu nào lớn hơn là hiến mạng sống v́ người ḿnh yêu” (Ga 15, 13) sao? Và Thiên Chúa lại chẳng dành sẵn ân sủng cùng với thử thách sao? (X. 1 Cr 10, 13).
Xin nêu lên một vài trong những bước vượt qua để đi tới thinh lặng nội tâm lớn hơn.
a. Sự bất công hay những điều cực nhọc khó chịu thường có hậu quả đầu tiên là khiến cho t́nh cảm ta sôi sục lên và muốn nổi loạn. Mà, như Angelus Silesius nói, “nếu có ǵ c̣n làm con bị xáo trộn, th́ con chưa hoàn toàn được chôn trong mồ với Thiên Chúa” [41]. Trong những thử thách ấy, chiến thắng chính là sự thinh lặng ngoài môi miệng. Thinh lặng này dẫn ta tới thinh lặng trong tâm hồn giúp ta tránh hao phí sức lực và nương tựa vào t́nh yêu Chúa Kitô đấng ngự trong ta. Giai đoạn này có tính quyết định, v́ tự sức ḿnh, chúng ta không thể vượt qua được thử thách. Chân phước Élisabeth de la Trinité nói: “Dành sức lực cho Chúa, chính là tạo sự hiệp nhất trong toàn thân bằng sự thinh lặng nội tâm; (…) Linh hồn nào tranh luận với cái tôi của ḿnh, bận tâm đến những cảm xúc của ḿnh, theo đuổi một tư tưởng vô ích, một ước muốn nào đó, linh hồn ấy sẽ làm hao phí sức lực, nó không hoàn toàn qui hướng về Chúa” [42]. Bước vượt qua này cần thiết tới độ Abba Isaie nói: “Với người mới bắt đầu không ǵ hữu ích bằng xỉ nhục. Người mới bắt đầu mà được chịu đựng xỉ nhục th́ giống như một cây được tưới nước mỗi ngày” [43] và “Khi có ai tố cáo con điều ǵ con đă làm, hay con không làm, - nếu con thinh lặng, con sẽ giống như Chúa Giêsu; - nếu con trả lời: “Tôi đă làm ǵ nào?’, là không giống ngài; - nếu con căi qua căi lại, đó là con chống ngài” [44]. Thánh Gioan Thánh Giá bảo: “Nếu chúng ta muốn giữ tinh thần siêu nhiên, tôi xin nhắc lại: không có phương thế nào hiệu nghiệm hơn là chịu đau khổ, hành động, thinh lặng, đóng các cửa giác quan lại, trầm ḿnh vào thanh vắng, … có t́nh yêu nhạy cảm để chịu đau khổ trong mọi hoàn cảnh” [45]. Và thánh Têrêsa Lisieux nói: “Khi chúng ta bị hiểu lầm và bị kết án bất công, th́ tự bào chữa, tự thanh minh nào có ích ǵ! Hăy bỏ qua, đừng nói ǵ cả. Thật là êm dịu khi chẳng nói ǵ, khi cứ để ḿnh bị kết án thế nào cũng được. … Ôi sự thinh lặng hồng phúc, làm cho linh hồn được b́nh an biết chừng nào!” [46].
b. Nhưng không phải chỉ có những gian nan khốn khó bên ngoài. Mỗi người chúng ta đều gặp những bách hại nội tâm đến từ dục vọng, từ những “điều thích thú” và những “xung lực ồn ào”. Ở đây cũng thế, việc cởi mở tâm hồn với vị niên trưởng, được nói tới ở bậc khiêm nhường thứ năm, dẫn chúng ta “vào sự thinh lặng của các khuynh hướng” [47]. Cha thiêng liêng sẽ giúp phân định các tư tưởng và ước muốn của tâm hồn xem cái nào quan trọng, cái nào không, để Chúa Kitô cũng chiến thắng cả tiếng ồn ào của các dục vọng này nữa. Chân phước Élisabeth de la Trinité ghi chú: “Để không ǵ kéo tôi ra khỏi sự thinh lặng tốt đẹp bên trong, tôi vẫn phải nắm giữ điều kiện đó, vẫn phải sống tách biệt, phải dũ bỏ hết. Nếu những ước muốn, những sợ hăi, những niềm vui hay nỗi khổ của tôi, nếu mọi tác động đến từ bốn dục vọng này không hoàn toàn qui hướng về Chúa, tôi sẽ không có được sự thanh vắng, vẫn c̣n tiếng động trong tôi. Vậy, phải yên tịnh, các năng lực phải lắng dịu, phải có thống nhất nơi bản thân” [48]. Và khi tội lỗi cũng như sự bất an mà tội lỗi kéo theo [49] dường như thắng thế và làm ta sao lăng Chúa, vai tṛ của cha thiêng liêng lại cũng không phải là giúp ta vượt qua chính ḿnh bằng cách làm cho ta tin tưởng vào t́nh yêu Chúa ngay cả khi ta yếu đuối sao?
Nhờ kinh nghiệm bản thân về sự yếu đuối của ḿnh và về t́nh âu yếm của Thiên Chúa, cha thiêng liêng sẽ làm tan đám mây bất an nội tâm, sẽ dẫn ta qua khỏi tâm trạng khô khan [50], khỏi sự nản ḷng, và phục hồi b́nh an trong ta. Ngài giúp ta giữ cặp mắt hướng về “Đấng yêu thương ta” [51] và như thế đưa ta trở lại với thinh lặng nội tâm. Aphraate quả quyết rằng thinh lặng này là cầu nguyện, rồi ông thêm ngay: “Thinh lặng kết hợp với một lương tâm nhạy bén có giá trị hơn là tiếng la lớn của con người” [52].
Vậy khi trải qua những việc thanh tẩy của bậc khiêm nhường thứ tư, đan sĩ noi theo sự thinh lặng-từ bỏ và sự thinh lặng-tin tưởng của Chúa Kitô. Họ nhận ch́m ư riêng và cảm súc của ḿnh vào sự thinh lặng của Thiên Chúa và, như Chúa Kitô, tập trung vào ư muốn và sự hiện diện của một Đấng Khác.
3. Nơi bậc thứ mười một, thánh Biển Đức nói: “Người khôn th́ ít lời”. Ở giai đoạn thứ ba này, chúng ta thấy lời nói ta đă hy sinh đi trong sự thinh lặng-từ bỏ được trả lại cho ta, sau khi đă được thanh tẩy cũng như được thấm nhuồn bằng thinh lặng và sự phong phú của Thiên Chúa. Madeleine Delbrêl đă ghi chú rất tinh tế rằng “sự thinh lặng không thích nhiều lời. Chúng ta biết nói hay biết thinh lặng, nhưng chúng ta không biết bằng ḷng chỉ nói những lời cần thiết thôi. Chúng ta không ngừng giao động giữa thái độ câm nín nặng nề và việc tuôn trào ra những lời nói quá sự thật” [53].
Bậc khiêm nhường thứ chín, mười, mười một và mười hai là những “dấu chỉ”, tức là những dấu bên ngoài về sự b́nh an nội tâm nhiệm mầu hiện có nơi đan sĩ. Ở bậc thứ chín, chúng ta thấy rằng sau khi đă trải qua thinh lặng hiến tế của bậc thứ tư, như Chúa Giêsu đă “thinh lặng”, đan sĩ có thể nói, nhưng nói hết sức dè dặt. Bậc thứ mười cho hay đan sĩ dường như không c̣n khả năng dễ dàng cười nói ồn ào nữa. Bậc thứ mười một nêu lên sự nhẹ nhàng, từ tốn, nghiêm trang nội tâm trong lời nói của đan sĩ. Ở mức độ này, ta có thể nói lời ấy trào ra từ nguồn mạch, đó là Ngôi Lời. Lời đan sĩ nói được liên kết với con người nội tâm; lời nói ấy không làm con người nội tâm bị bất an, nhưng cho ta thấy được con người nội tâm đó. Lời nói ấy mang tính cách “trang trọng”, nghĩa là bày tỏ chính sự hiện diện của Chúa Kitô. Lời nói bên ngoài rất khó kiềm chế, như thánh Giacôbê nhận xét, th́ bây giờ được thấm nhuồn bởi Ngôi Lời ngự trong nội tâm. Nhờ tâm hồn đă được thanh tẩy, Ngôi Lời nhập thể bày tỏ sự hiện diện của ngài để phục vụ anh em. Nơi đan sĩ đă được an định, được tái thống nhất, sẽ không c̣n chỗ cho khuynh hướng muốn “tranh luận”, “phản kháng” [54] hay căi cọ nữa.
Có rất nhiều câu “cách ngôn” thú vị và hài hước mô tả những dấu hiệu bên ngoài của sự an định nội tâm [55] và bày tỏ nỗi ngạc nhiên trước sự an định ấy: “Thưa viện phụ Nisthérôos, do đâu mà cha có được nhân đức này là khi trong cộng đoàn xẩy ra chuyện ǵ gây bất ổn, cha chẳng nói ǵ, cha không can thiệp?” [56]. Nỗi ngạc nhiên này biểu lộ ḷng thán phục của tất cả những ai, khi được ơn gần gũi những con người như thế, đă phát hiện ra nơi họ những ánh quang ban đầu của việc tạo thành mới. Thực vậy, theo kinh nghiệm của họ, đây không c̣n chỉ là việc tự chủ thuần túy nhân bản nữa, nhưng là một chứng từ lặng lẽ, đó chính là công việc của Thánh Thần. Lời nói được trả lại, nhưng thấm nhuồn thinh lặng, và chính thinh lặng trở thành lời nói, hàm chứa lời nói nội tâm. Lời nói nội tâm này được nói ra với nội dung phong phú nhiệm mầu. Lời nói đó là chính lời Chúa Cha đă ban cho Con của ngài nhờ ơn sủng Thánh Linh trong ngày lễ Ngũ Tuần. “Đó là ân sủng Chúa dùng Thánh Thần đổ tràn xuống cho tôi tớ của ngài, khi họ đă được thanh tẩy khỏi những khiếm khuyết và tội lỗi” [57].
Emmanuel LATTEUR OSB.
Collectanea Cisterciensia
T. 38, 1976, 1.
[1] Thánh GIOAN THÁNH GIÁ, Châm ngôn 307, trong Oeuvres spirituelles de saint Jean de la Croix, Paris, Seul, 1947, tr. 1226.
[2] I. HAUSHERR, Prière de vie, vie de prière, Paris, Lehtielleux, 1965, tr. 421.
[3] Thánh AUGUSTIN, Commentaire de la 1re Épitre de S.Jean, Tr. 4, 6-7: Sources chrétiennes 75, Paris, 1966, tr. 233.
[4] G. CHOPINEY, Le silence dans la tradition monastique (chưa xuất bản).
[5] Saint IRÉNÉE DE LION, Contre les hérésies, IV, 39, 2-3: Sources chrétiennes 100**, Paris, Cerf, 1965, tr. 965-969.
[6] A. BLOOM, Prière et sainteté, Notes ronéotypées, Louvain, 1968, tr. 72.
[7] PSEUDO-ÉPHIPHANE, Homélie pour la Samedi Saint (PG 43, 440-464) được trích dẫn trong H. URS VON BALTHASAR, Dieu et l’homme d’aujourd’hui, Paris ĐB, 1966, tr. 258.
[8] H. URS VON BALTHASAR, Les thèmes johanniques dans la règle de saint Benoit et leur actualité dans Colectanea Cisterciensia 37 (1975) tr. 6.
[9] X. 1 Cr 3, 16; 6, 19; 2 Cr 6, 16; 1 Ga 4, 4.
[10] R. GUARDINI, Le Seigneur, Paris, Alsaria, 1945, tr. 151.
[11] BX. PAUL GUSTIANIANI trong Jean LECLERCQ, Seul avec Dieu, La vie érémitique d’après la doctrine de Bx P.Gustiniani, Paris, 1955, tr. 144.
[12] Jean TAULER, Homélie pour la veille des Rameaux trong Sermons de Tauler, bản dịch của Hugueny và Thery, Paris, 1928, tr. 301.
[13] P. EVDOKIMOV, Les âges de la vie spirituelle, Paris, DDB, 1964, tr. 64.
[14] X. J. GOUILLARD, Petite Philocalie, Paris, Seuil, 1953, tr. 38.
[15] PG 60, 752-755; x. Un moine de l’Église d’Orient, La prière de Jésus, Chevetogne, 1963, tr. 36.
[16] Jean CASSIEN, Conférences , I, 13: Sources chrétiennes, 42, Paris, Cerf, 1955, tr. 91.
[17] SAINT MAXIME, Cent.gnost. II, 80 (PG 90, 1161D-1164A); x. Myst. 7 (PG 91, 688B); Ambig. (PG 91, 1149B) và thánh Macaire, Hom. 15, 20 (PG 34, 589A).
[18] SAINT JEAN DE LA CROIX, Vive flame d’amour, atr. 1, trong Oeuvres spirituelles de saint Jean de la Croix, Paris, Seuil, 1947, tr. 919.
[19] PSEUDO-MACAIRE, Hom.. 16, 7 (PG 34, 617D). X. JEAN CLIMAQUE, L’échelle, 28 (PG 88, 1133B và 25; PG 88, 1000D-1101A); GRÉGOIRE PALAMAS, Triades ou la défense des saints hésychastes, dẫn nhập và dịch bởi J.Meyendorff, Louvain, 1959, tr. 90.
[20] MAITRE ECKHART, Instructions spirituelles 18, trong Les Traités, Paris, Seuil, 1917, tr. 70.
[21] SYMÉON LE NOUVEAU THÉOLOGIEN, Catéchèse VI: Sources chrétiennes 104, Paris, Cerf, 1964, tr. 23.
[22] D. AUGUSTIN BAKER, La sainte Sapience, t. 1, Paris, 1954, tr. 221.
[23] C. H. URS VON BALTHASAR, Élisabeth de la Trinité et sa mission spirituelle, Paris, Seuil, 1960, tr. 94.
[24] Trích dẫn trong Contacts (1960) 2, p. 129.
[25] X. I. HAUSHERR, Les Lecons d’un contemplative. Le traité de l’Oraison d’Évagre le Pontique, No 149, Paris, Beauchesne, 1960, p. 180.
[26] LAURENT DE LA RÉSURRECTION, L’expérience de la présence de Dieu, Maxime spir. 4, Paris, Seuil, 1947, p. 94-95.
[27] PHILOXÈME DE MABBOUG, Lettre à un juif converti trong L’Orient Syrien, 6 (1961), p. 45.
[28] SAINT BERNARD, Sermon 2 in Dom. I post Oct. Epiph. (PL 183, 161c: S.Bernardi opera, IV, p. 324.
[29] RODOLPHE DE S. TROND, Cesta Bab. Trudon, VIII, 19.
[30] SAINT BRUNO, Lettre à Raoul le Verd (PL 152, 421).
[31] Charles de Foucauld et la fraternité, Maitres spirituels, Paris, 1961, p. 149.
[32] J. LOEW, Comme s’il voyait l’invisible, Paris, 1964, p. 65.
[33] SAINT GRÉGOIRE DE NAZIANE, Lettre à Palladios: Écrits des saints, Namur, Devolder, 1960, p. 115.
[34] Lời Tựa sách của J. LECLERCQ, o.c.
[35] H. URS VON BALTHASAR, Les thèmes johanniques dans la règle de saint Bnoit et leur actualité, trong Collectanea Cisterciensia 37 (1975), p. 8.
[36] J.C. GUY, Les Apophtegmes des Pères du déert (Spir. Orient. No 1, Bellefontaine, s.d.), sér. Alph. Moise, 6; Macaire, 27.
[37] Nt, Macaire, 41.
[38] Nt, Antoine, 10. X. Vie de S. Antoine par S. Athanase, trong R. DRAGUET, Les Pères du desert, Paris, Plon, 1949, tr. 67.
[39] Arsène, 11, N. 195 trong Les senrences des Péres du désert, Solesmes, 1966, tr. 106.
[40] N. 206, Nt, tr. 109.
[41] ANGELUS SILESIUS, Le Pèlerin chérubinique I, 34, Paris, Aubier, 1946.
[42] ÉLISABETH DE LA TRINITÉ, Dernière retraite, Dijon, Jobart, s.d., p. 4.
[43] Abba Isaie, trong J.C. GUY, o.c. , p. 100.
[44] Abba Isaie, Log. 3,4.
[45] SAINT JEAN DE LA CROIX, Lettre aux religieuses carmélites de Véas trong Oeuvres spirituelles se saint Jean de la Croix, Paris, Seuil, 1947, p. 1060.
[46] SAINTE THÉRÈSE DE LISIEUX, Dernièrs entretiens, Paris, Cerf, 1971, p. 201.
[47] SAINT JEAN DE LA CROIX, Maxime 319, trong o. c., p. 1227. X. Lettre à Mère Éléonore Baptiste, ibidem, tr. 1061: “Điều cần thiết hơn cho chúng ta là bắt các khuynh hướng và lười chuh1ng ta im lặng trước nhan Thiên Chúa, v́ ngôn ngữ ngài thích nghe chỉ là thinh lặng của t́nh yêu mà thôi”.
[48] ÉLISABETH DE LA TRINITÉ, Derniére retraite, Dijpn, Johart, s.d., p. 21.
[49] V ề nh ững “bất an” này, được so sánh với những con cáo trong vườn nho, x. SAINT JEAN DE LA CROIX, Cantique spiritual, str. 25, trong Oeuvres spirituelles de Saint Jean de la Croix, Paris, Seuil, 1947, tr. 825-826.
[50] X. SAINT SYMÉON LE NOUVDEAU THÉOLOGIEN, : “Dần dần ngài đă xóa tan bóng tối trong con, ngài đă xua đi đám mây bao phủ con, ngài đă mở tai thiêng liêng, ngài đẵ thanh tẩy con ngươi của cặp mắt tâm trí con … và bỗng nhiên, ngài xuất hiện như một mặt trời khác, ôi Thiên Chúa nhân hậu khôn tả”, Sermon 90, Éd. Du Mont Athos, II, 487-489. X. Vie spir. 28 (1931), p. 76-77.
[51] TL 7, bậc thứ tư, trích dẫn Rm 8, 37.
[52] APHRAATE, Démonatration, 22, 26.
[53] Madeleine DELBRÊL, Le silence dans la ville, trong Christus, 49 (1.1966) tr. 5.
[54] “Hăy chặt đứt khỏi con óc phản kháng đối với bất cứ điều ǵ, hăy khóc lóc và thống hối”, Matoès, 12 sér. Alph., éd. J.C. Guy, sđd., tr. 191. – “Nếu ai chối mà nói ‘tôi không nói thế’, con đừng căi lại mà bảo: ‘anh nói mà’, v́ người ấy sẽ vặn lại con: ‘Ừ th́ tôi nói đấy, rồi sao nào?’ “. Apophtegme, série anon. éd. Guy, sđd. tr. 361. X. Matoès, sér. Alph. 11. nt, tr. 191.
[55] X. chẳng hạn việc thử căi nhau giữa hai người cao tuỗi, J.C. Guy, sđd, tr. 398, No 221 và giai thoại về con chim câu con hay con quạ, hoặc giai thoại về con heo rừng con: nt, tr. 297, No. 11.
[56] J.C. GUY sđd, tr. 191, No. 11.