VẺ ĐẸP KHẮC KHỔ CỦA SA MẠC

 

 

        “Các đan sĩ dơi theo vết chân những người được Thiên Chúa mời gọi vào cuộc chiến đấu thiêng liêng trong những thế kỷ trước đây”. Câu này trong bản Hiến Pháp mới của chúng ta (3, 3) [1] diễn tả nét đặc thù của ơn gọi đan tu, tức là lời mời gọi vào sa mạc.

 

        Tính biểu tượng của sa mạc có thể giúp chúng ta t́m hiểu đời sống đan tu khi rút ra từ đời sống đó vài ba trục lớn được tŕnh bày cách khái quát trong bài này.

 

        1. Tiếng gọi vào sa mạc

 

        “Ta sẽ quyến rũ nó, dẫn nó vào sa mạc và tâm sự với nó” (Os 2, 16). Chẳng ai vào sa mạc nếu không được Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống linh hứng. Đó là một ơn gọi theo nghĩa chặt, tức là một tiếng gọi mà đôi khi người ta đă chối từ. Có thể nói ngay rằng người ta không chọn đi vào sa mạc, không chọn làm cuộc mạo hiểm thiêng liêng có thể gây sợ hăi này, v́ theo Kinh Thánh sa mạc luôn luôn cho thấy hai phương diện nổi bật: vừa là nơi gặp gỡ Thiên Chúa đấng quyến rũ chúng ta, vừa là nơi chiến đấu với sức mạnh của sự dữ. Sa mạc cũng là thửa vườn trong sách Nhă Ca, nơi cử hành giao ước, nơi mà đất cát khô chồi nóng bỏng, nơi trào dâng nỗi ước mong.

 

        2. Sa mạc như nơi chốn của mặc khải

 

        Trong thinh lặng của sa mạc, con người có thể nghe tiếng Chúa nói với ḷng ḿnh. Để nghe được tiếng Chúa, phải có trái tim tinh tuyền, mà theo Cassianô, là mục đích của đời sống đan tu. Trái tim tinh tuyền, hay đang được thanh tẩy, có khả năng lắng nghe Lời Chúa, nhờ Lời đó hai cuộc mặc khải sẽ được thực hiện:

        - Mặc khải về Thiên Chúa chân thật trước các thần tượng: Môsê được coi như người nhận mặc khài này với tất cả những yêu sách của nó. Chính Chúa Giêsu, sau 40 ngày trong sa mạc, đă đẩy lùi Satan, tên cám dỗ, khi đứng về phía Thiên Chúa là Cha của ngài: “Ngươi phải thờ lạy Chúa, Thiên Chúa của ngươi, và chỉ tôn thờ một ḿnh ngài” (Lc 4, 8). Tôn thờ Thiên Thiên Chúa chân thật là thái độ chính đáng, nói lên cùng một lúc sự gần gũi và xa cách, sự thân t́nh và tôn kính. Tôn thờ trong t́nh yêu sẽ tránh được sự ḥa nhập với Thiên Chúa chân thật hay chiếm đoạt ngài; ta không sử dụng Thiên Chúa, nhưng đặt ḿnh trước mặt ngài để chờ ngài đến với ta.

        - Mặc khải về cái tôi đích thực trước thần tượng của tôi: “Hăy nhớ lại Thiên Chúa đă dẫn ngươi đi trong sa mạc bốn mươi năm trường, để người hạ ḿnh xuống, và ḍ xét tận đáy ḷng ngươi xem ngươi có muốn hay không muốn tuân giữ các mệnh lệnh của Người” (Đnl 8, 2). Nơi sa mạc, không ai trốn tránh được sự thật về ḿnh, v́ tất cả đều trơ trụi, tất cả đều được bóc trần. Nơi đây Thiên Chúa được mặc khải không cho phép có mưu mô hay dấu diếm: Ngài làm cho ta biết được cả nơi sâu thẳm nhất của ḷng ḿnh. Giờ phút nghiêm trọng cho con người khi sau cùng họ nh́n thầy ḿnh

là ǵ. Không hiếm trường hợp một mặc khải như thế kéo theo sự hoán cải nhờ kinh nghiệm về ḷng thương xót của Thiên Chúa.

 

        3. Sa mạc như nơi chốn của ḷng thương xót

 

        Việc khám phá thường bất ngờ về nỗi khốn cùng trong ḷng con người là thời điểm quyết định đối với họ, v́ nó sẽ giúp họ có được một khám phá khác c̣n quan trọng hơn: khám phá ra ḷng thương xót. Kinh Thánh để lại cho ta nhiều mẫu gương về điều đó, chẳng hạn trường hợp vua David. Sau khi tiên tri Natan tới gặp vua và nói với vua một câu bất hủ “Người đó chính là ngài”, vua đă “ăn chay nhiệm ngặt, nằm ngủ trên đất, ḿnh cuốn bao bị” (2 Sm 12, 16). Chúng ta cũng nhớ trường hợp thánh Phêrô. Sau khi chối Thầy ba lần, liền nghe gà gáy, chính lúc đó ngài thấy Chúa Giêsu quay lại nh́n ḿnh, và lập tức thánh nhân “đi ra ngoài khóc lóc thảm thiết” {Lc 22, 61-62). Ai khóc lóc khi khám phá được tận căn tội lỗi của ḿnh, người ấy sẽ biết rằng họ khóc không phải v́ ư thức về tội lỗi ḿnh đă phạm, nhưng v́ ḷng thương xót vô biên mà họ chiêm ngắm trong cái nh́n của Chúa Giêsu. Có lẽ không có chiêm niệm nào đích thực hơn thế chăng?

 

        Các đan sĩ xitô tiên khởi đă muốn thiết lập một ngôi trường bác ái (schola caritatis). Nơi ngôi trường này, người ta học cho biết ḿnh được yêu thương bằng t́nh yêu thương xót ấy và học để biết yêu bằng con tim tràn đầy ḷng thương xót. Một cộng đoàn đan tu không thể tồn tại lâu được nếu giữa các phần tử với nhau không có ḷng thương xót, được biểu lộ qua cái nh́n về người khác. Nh́n thấy cái xấu, nhưng cũng nh́n xa hơn cái xấu nữa, nh́n thấy cơi ḷng con người tội lỗi luôn luôn được Thiên Chúa yêu thương.

 

        Sa mạc nhào nặn nên con tim biết thương xót bằng việc gặp gỡ Đấng Chịu Đóng Đanh, đấng đă hứa cho tên trộm cướp niềm vui được ở với ḿnh hôm nay trên thiên đàng (x. Lc 23, 43). Chỉ duy có thập giá của Con Thiên Chúa mới bảo đảm cho con người tội lỗi được cứu độ vô điều kiện. Như con rắn đồng được treo lên trong sa mạc, thập giá Chúa Giêsu thu hút cái nh́n của con người bị tội lỗi cắn. Vậy không được ngạc nhiên nếu đan sĩ, con người của sa mạc, dám nói nhiều về tội lỗi như thế. Nhờ kinh nghiệm riêng họ biết rằng tội có thể trở nên cơ hội cho cuộc gặp gỡ rạng ngời và có tính giải thoát với cái nh́n của Đấng Chịu Đóng Đanh.

 

        4. Sa mạc như nơi chốn của lời ca ngợi và chuyển cầu  

 

        Việc gặp gỡ ḷng thương xót không hề làm cho đan sĩ tự khép kín trong sự hối hận gây tê liệt, nhưng biến đổi họ thành chứng nhân trào dâng lời tạ ơn và ca ngợi. Thực vậy, khi hiểu được những chiều kích của ơn tha thứ Thiên Chúa ban, người ta sẽ chỉ c̣n biết đắm ch́m trong niềm tri ân sâu thẳm và biến đời ḿnh thành lễ tạ ơn không ngừng. Dĩ nhiên là phải tôn vinh Thiên Chúa, mọi nơi mọi lúc, v́ sự kỳ diệu của công tŕnh sáng tạo, và cũng như ai khác con người của sa mạc nhận ra sự vô cùng lớn lao của tất cả những ǵ Thiên Chúa đă làm cho loài người; nhưng lời nguyện của thánh lễ Vọng Phục Sinh cho chúng ta thưa với Chúa: “Chúa đă dựng nên con người cách kỳ diệu, lại c̣n cứu chuộc con người cách kỳ diệu hơn nữa”.

 

        Sa mạc, nơi mà đan sĩ đă được Thần Khí dẫn vào, không phải là nơi duy nhất có thể làm trào dâng lời ca ngợi, nhưng nếu thiếu   lời ca ngợi, sa mạc có nguy cơ biến thành nơi thanh vắng cằn cỗi. Nhờ có lời ca ngợi, sa mạc lại trở thành nơi chốn của ân sủng, nơi mà cộng đoàn tạ ơn hát mừng Thiên Chúa ba lần thánh, Ba Ngôi diễm phúc, đấng mời gọi con người đi vào cuộc sống riêng tư của ngài. Trở nên con trong Con yêu dấu khi chịu phép rửa, đan sĩ đón nhận Thần Khí, đấng thần hóa họ và làm cho họ thành người hơn nữa.

 

        Khi đó cái nh́n của họ hướng về anh em ḿnh và lời ca ngợi của họ mở ra hướng chuyển cầu bao trùm toàn thể nhân loại. Con người của sa mạc không kết án ai và không mong muốn tự tách rời khỏi những người họ coi như là tội nhân. Trái lại họ cảm thấy rất liên đới với những niềm vui và những hy vọng, những nỗi buồn và những âu lo của các người ấy (Mở đầu Gaudium et Spes), họ ôm ấp tất cả trong lời chuyển cầu thiết tha. Và họ xin ǵ cho thế gian nếu không phải là xin Thần Khí Chúa Kitô. Lời cầu nguyện của đan sĩ là lời liên lỉ xin ơn Thánh Thần, v́ đan sĩ biết rằng hồng ân tuyệt hảo chính là Thánh Thần, đấng trợ giúp con người thời đại chúng ta t́m kiếm và gặp được những giải pháp cho các vấn đề nghiêm trọng đang đè trên họ. Việc phục vụ mà đan sĩ dành cho thế giới chính là lời cầu nguyện này, đó là một cuộc chiến đặc biệt họ phải đương đầu ngày đêm nhân danh các anh em đồng loại của ḿnh.

 

        Khi thánh Antôn, người cha của các đan sĩ, qua đời, Sérapion viết cho các môn đệ của ḿnh: “Thế gian đă mất đi một vị chuyển cầu vĩ đại, ngài đă chuyển cầu cho toàn thể vũ trụ”.

 

        5. Sa mạc như nơi chốn người ta nh́n thẳng vào cái chết

 

        Thế ǵới chúng ta sống trong sự mâu thuẫn kỳ lạ: một đàng người ta không ngừng nói tới cái chết và phơi bày xác chết khắp nơi, đàng khác người ta lại không dám nh́n thẳng vào cái chết. Bằng mọi cách, người ta cố tránh cái chết. Nơi sa mạc, cái chết không bị che đậy, ngươi ta coi nó là chuyện b́nh thường. Thánh Biển Đức nói trong tu luật rằng hằng ngày phải nghĩ đến cái chết. C̣n thánh Antôn, trước khi chết đă để lại cho các môn đệ của ḿnh lời trối như sau: “Hăy luôn luôn hít thở Chúa Kitô, hăy tin nơi ngài, hăy sống mỗi ngày như thể đang chết”. Trước đây ngài đă nói với họ: “Nếu chúng ta sống như thể đang chết mỗi ngày, chúng ta sẽ không phạm tội”.

 

        Những lời nói kiểu đó có thể không c̣n hiểu được nữa, v́ xem ra không lành mạnh khi gần như sống chung với cái chết như vậy. Phải chăng điều đó lại không nhắc tới những tấm h́nh xưa kia vẽ một đan sĩ ngồi suy niệm trước cái sọ người, hay một đan sĩ đang đào huyệt cho ḿnh, hoặc một đan sĩ đang đi bỗng gặp một người anh em liền nói: “Anh ơi, chúng ta phải chết đấy”? Ngày nay những chuyện quá đáng như vậy không c̣n thấy trong các đan viện nữa. Nhưng ở những nơi đó, các đan sĩ b́nh an đợi chờ cái chết.

       

        Nói vậy không có nghĩa là trong đan viện người ta chết tốt hơn ở sa mạc xưa kia. Người ta có thể mơ tới một cái chết đẹp, nhưng thực tế đôi khi lại chẳng đẹp mấy. Đối với đan sĩ cách chết   ít quan trọng hơn thực tại của cái chết. Họ biết ḿnh là một hữu thể sinh ra để chết và họ sống theo ư hướng đó, với hy vọng có thể thưa với Chúa như ông bác sĩ người Anh kia: “Lạy Chúa, xin làm cho con được sống khi con chết”. Đức tin vào Chúa Kitô tử nạn và phục sinh giúp họ nh́n cái chết cách sáng suốt. Họ biết ḿnh cũng sẽ không tránh được cái chết vào thời giờ đă định mà có thể đôi khi họ thấy sợ, nhưng ngày qua ngày họ tiến gần tới giờ đó để gặp gỡ tỏ tường Đấng mà suốt đời họ t́m kiếm trong tối tăm. Nghĩ đến cái chết không cản trở con người của sa mạc yêu mến cuộc sống trần gian, giang rộng đôi tay ôm ấp lấy nó, v́ họ cũng nghĩ rằng “nghệ thuật chết phải trải rộng cả cuộc đời. Ai sống vui tươi, cởi mở, lành mạnh, đó là người tập chết mỗi ngày” (Friedrich Heer).

 

        Việc chôn cất một đan sĩ biểu lộ sự chấp nhận cái chết trong đức tin: thân xác người anh em vừa qua đời được đặt giữa ca ṭa cho tới khi an táng. Trong thời gian này, các anh em thay phiên nhau đọc thánh vịnh gần thi hài, rồi đến ngày ấn định, họ mang thi hài ra nghĩa trang, đặt xuống huyệt mà không có quan tài, như một hạt giống được gieo xuống và lấp đất đi. Nghi thức chôn cất này biểu lộ trọn vẹn ư nghĩa: con người của sa mạc biết rằng một ngày kia họ phải trở về với đất, v́ họ là bụi đất nên phải trở về bụi đất. Làm sao họ lại không hiểu cùng với thánh Biển Đức rằng chỉ có một con đường đi về với Chúa, đó là con đường khiêm nhượng [2]

 

        6. Sa mạc như nơi chốn trái đất t́m lại được giá trị của ḿnh   

 

        H́nh ảnh về thân xác một con người được anh em ḿnh đặt xuống đáy huyệt họ đă đào cho ḿnh có ư nghĩa biểu tượng rất lớn: h́nh ảnh ấy nói lên rằng con người thực sự là “người bởi đất”, chỗ của họ ở trên mặt đất và trong đất. Nếu họ hết ḷng khát vọng niềm vui trên trời, nếu họ ước muốn sự sống vĩnh cửu bằng tất cả nỗi ao ước thiêng liêng của ḿnh (concupiscentia spiritualis, như thánh Biển Đức viết), họ cũng yêu mến trái đất và thấy thoải mái ở đó.                                             

 

        Lời khấn bền đỗ gắn kết đan sĩ với cộng đoàn của ḿnh, nhưng cũng gắn kết họ với nơi chốn mà họ sẽ sống trong suốt cả cuộc mạo hiểm đan tu của họ. Một số đan sĩ đă sống ở một nơi như thế từ hơn năm mươi năm. Dường như có một sự thẩm thấu nào đó giữa con người của sa mạc và mảnh đất họ sống: họ biết đấy là mảnh đất khô cằn, trên đó bằng đôi tay của ḿnh họ lao động, họ trồng cây, dựng nhà cửa. Người ta đă nói về một trong các vị sáng lập Xitô rằng “ngài yêu anh em và địa sở”. Trong thế giới chúng ta, khi mà con người thường bị bật gốc, thay đổi chỗ ở v́ những lư do khác nhau, các đan viện lại là những nơi chốn vững bền. Hẳn cũng có nguy cơ là an vị nơi đó rồi quên đi những ǵ xẩy ra chung quanh, nhưng sự bền đỗ cũng giúp đào tạo những con người có cội rễ nhân bản và thiêng liêng tốt. Đó là kết quả của việc  ḥa giải với trái đất, con người lại trở thành vua của vạn vật.

 

        Công việc mà con người của sa mạc làm nên là một trong những biểu hiện đẹp nhất của việc ḥa giải đó, đấy là công việc mà trong thông điệp Laborem Exercens Đức Gioan Phaolô II nói là “một điều thiện hảo cho con người – là một điều thiện hảo cho nhân tính của con người – v́, khi làm việc, không những con người biến đổi thiên nhiên cho thích hợp với những nhu cầu riêng của ḿnh, nhưng c̣n tự thể hiện ḿnh như con người, và ngay cả, theo một nghĩa nào đó, trở nên người hơn” (số 3). Đó là lư tưởng rất rơ ràng nhưng lại rất khó thực hiện, là lư tưởng được nhắm tới của con người nhớ lại rằng Con Thiên Chúa đă làm người và làm người lao động.

 

       Không nên ngạc nhiên khi mà đất lại chiếm một chỗ như thế trong kinh nguyện của con người của sa mạc và đặc biệt là trong phụng vụ của họ. Cùng với Giáo Hội, họ đề cao giá trị của đất khi hát thánh vịnh và thánh ca (“Trái đất hăy chúc tụng Chúa”), và c̣n hơn thế nữa khi họ cầm đất trong tay dưới những dấu chỉ bánh và rượu để nhờ quyền năng của Thần Khí thánh hóa chúng trở nên Ḿnh và Máu Chúa Kitô, làm lương thực cho họ trong cuộc hành tŕnh về Đất Mới.

 

        Họ yêu mến anh em và địa sở, nhưng họ mong về miền đất “sẽ chẳng c̣n tang tóc, khóc than, đau khổ nữa” (Kh 21, 4). Khi đề cao giá trị của miền đất mà đôi khi họ phải vất vả bước đi, họ tha thiết ước mong miền Đất khác, hay đúng hơn miền Đất đă trở nên khác, v́ đă được biến đổi h́nh dạng nhờ vinh quang của Đấng Phục Sinh.

 

        7. Sa mạc như nơi chốn mà sự thinh lặng sinh ra một lời dẫn tới thinh lặng

 

        Theo h́nh ảnh Đức Trinh Nữ Maria, sa mạc là miền đất thinh lặng, nơi sinh ra một lời, nhờ tác động của Thánh Thần. Đó là lời anh em chia sẻ cho nhau trong cuộc sống chung: một lời sự sống mang hy vọng đến cho người anh em đang đau thương sầu khổ, một lời khích lệ cho người anh em đang bị lỗi lầm đè nặng và làm hổ nhục, một lời yêu thương cho người anh em đang cảm thấy bị Thiên Chúa và người khác bỏ rơi, một lời nâng đỡ người anh em đă mất tự tin sau một thất bại, một lời khuyến khích cho người anh em đang do dự trước bước đường không thể vượt qua, một lời sự thật không phải để nói cho người khác những sự thật của ḿnh nhưng mời gọi họ thực hiện sự thật trong hoàn cảnh nào đó.

 

         Lời nói ra từ sa mạc cũng là lời mà khách văng lai đến để t́m kiếm. Con người của sa mạc không phải là một anh mọi câm, nhưng là một người anh em có trái tim bị thương tích đă gặp được ḷng thương xót và đến lượt ḿnh có thể là làm chứng cho ḷng thương xót. Họ là người của hy vọng v́ họ tin vào một Thiên Chúa đấng yêu thương con người đến điên dại và không thất vọng về con người, dù con người có làm những chuyện điên rồ đi nữa. Trong thinh lặng của sa mạc, đan sĩ trở nên dễ bị thương tích trước nỗi đau khổ của nhân loại và họ đón nghe tiếng kêu cầu của những người anh em họ; họ lắng nghe những nỗi khốn cùng của những người anh em ấy mà qua đó họ nghe được tiếng rên xiết của tạo thành đang sinh nở.

 

        Khi ấy sẽ đến với họ thời giờ của thinh lặng, lúc mà họ tin tưởng phó thác cho Thần Khí, đấng rên xiết trong họ từ ngày họ chịu phép rửa và th́ thầm gọi tên, một tên làm cho sa mạc run lên v́ vui sướng: Abba, lạy Cha!

 

        Paul HOUIX, ocso.

 

    

Chú thích của người dịch:

 

[1] Hiến Pháp của Ḍng Xitô giữ  ngặt phép (OCSO: Ordre cistercien de la stricte observance)

[2] “Khiêm nhượng” trong tiếng la tinh là “humilis” (tt) hay “humilitas” (dt), “humilis” có nguồn gốc là “humus”, “humus” có nghĩa là đất.